Trong kho tàng nghệ thuật biểu diễn vô cùng phong phú của Việt Nam, nghệ thuật chèo và tuồng là hai loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời từ hàng trăm năm trước. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử dân tộc, cả nghệ thuật tuồng và chèo đều đã có những thời kỳ phát triển rực rỡ cũng như có những giai đoạn bế tắc, mai một... Theo quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, cũng giống như mọi sự vật, hiện tượng, nghệ thuật sân khấu truyền thống tuồng và chèo luôn có sự vận động để thích ứng với con người và xã hội ở từng thời kỳ khác nhau. Trong sự vận động ấy, có những yếu tố nghệ thuật được gìn giữ, lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành truyền thống tốt đẹp; song song với đó, có những yếu tố dần dần bị mai một, bị thất truyền, hoặc bị biến đổi đến mức mất gốc do những cố gắng “cách tân” của các nghệ sĩ nhưng thiếu phương pháp khoa học... Lịch sử tồn tại và phát triển của sân khấu tuồng, chèo cho thấy nhiều cuộc “thử nghiệm”, “cách tân” tuồng, chèo không đem lại kết quả như mong muốn.
Riêng về nghệ thuật chèo, ngay từ đầu thế kỷ XX đã có hai cuộc cách tân chèo cổ: Lần cách tân thứ nhất bắt đầu vào khoảng năm 1907 - 1908, kéo dài đến 1922, được người đương thời gọi là phong trào “Chèo Văn minh”; Lần cách tân thứ hai vào khoảng năm 1924, được gọi là phong trào “Chèo Cải lương”, gắn với tên tuổi của “chủ soái” Nguyễn Đình Nghị. Người ta ghi nhận một số thành công của Nguyễn Đình Nghị trong việc đã cố gắng đưa chèo đến gần hơn với công chúng lúc bấy giờ, là tầng lớp tiểu tư sản và thị dân ở các đô thị lớn. Song, vì nhiều lý do, những cố gắng đó vẫn chưa làm cho chèo có thể tồn tại và phát triển lâu dài ở đô thị được...
Sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là đầu những năm 60 của thế kỷ XX, với chủ trương phục hồi vốn cổ của Đảng và Nhà nước, nghệ thuật sân khấu truyền thống được đặc biệt quan tâm, nhiều vở diễn truyền thống được phục hồi, chỉnh lý, nâng cao; bên cạnh đó, nhiều vở được sáng tác, lấy đề tài phản ánh cuộc sống mới, con người mới. Thực tế cho thấy, so với sân khấu tuồng thì sân khấu chèo có lợi thế hơn trong việc tiếp cận với công chúng, trong việc phản ánh cuộc sống hiện đại.
Những năm 70, 80 của thế kỷ XX sân khấu chèo xuất hiện xu hướng ra đời khá nhiều vở được gọi là “Chèo mới”, “Chèo hiện đại”. Trong số những vở “Chèo mới” ấy có một số vở thành công ở một vài phương diện nào đó, bên cạnh đó có một số vở được gọi là “Kịch cắm ca” chứ không còn là chèo nữa. Trong quá trình tìm tòi hướng đi cho nghệ thuật sân khấu truyền thống trong xã hội đương đại, có người đã đánh mất những giá trị quý báu của nghệ thuật truyền thống mà các thế hệ cha ông đã dày công tích lũy; cũng có người có tâm, cố gắng tìm tòi một hướng đi cho chèo, với mong muốn cải tiến để đem chèo đến gần hơn với lớp khán giả mới, nhưng chưa thực sự có kết quả. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), khi sân khấu truyền thống đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều loại hình nghệ thuật giải trí khác, sân khấu chèo rơi vào khủng hoảng, mất phương hướng. Hơn bao giờ hết, vấn đề bảo tồn, kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo như thế nào càng trở nên bức thiết.
Trong bối cảnh ấy của sân khấu nước nhà, sự ra đời bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” của Tào Mạt (được ông sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1985) là một hiện tượng đáng mừng của những người làm nghệ thuật chèo và của công chúng yêu chèo. Mừng vì đây là một thành công rất đáng trân trọng, rất có giá trị trong công cuộc kế thừa và phát huy những giá trị đẹp đẽ của nghệ thuật chèo cổ trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại. Bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” là sự minh chứng hùng hồn cho cái điều mà nhiều người làm nghệ thuật chèo Việt Nam còn nghi ngờ, rằng: “Chúng ta hoàn toàn có thể sáng tác và dàn dựng những vở “Chèo mới” vừa phản ánh được những vấn đề của thời đại, phù hợp với tư tưởng và thị hiếu thẩm mỹ của con người Việt Nam hiện đại, mà vẫn đậm đà chất chèo truyền thống của cha ông, thậm chí làm cho nó hay hơn, hấp dẫn hơn...”.
Bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” ra đời đã trở thành một hiện tượng trong đời sống chính trị - xã hội và sân khấu của đất nước lúc bấy giờ. Nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học được tổ chức để giới chuyên môn bàn luận, đánh giá, đúc rút kinh nghiệm từ bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” để lấy đó làm bài học kinh nghiệm làm nghề, nhằm phát triển nghệ thuật chèo trong xã hội Việt Nam hiện đại. Cho đến nay, sau gần 40 năm đã trôi qua, nhu cầu nghiên cứu, nhận định, đánh giá một cách toàn diện bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” hầu như vẫn là điều được giới sân khấu, nhất là những người trong ngành nghệ thuật chèo, không ngừng quan tâm.
Để góp phần giúp bạn đọc, nhất là bạn đọc yêu nghệ thuật chèo truyền thống tìm hiểu sâu hơn về bộ ba “Bài ca giữ nước” của cố Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách: “Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba “Bài ca giữ nước” do Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga biên soạn. Cuốn sách tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; sự kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống; đồng thời chỉ ra những đóng góp của Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt và bộ ba chèo “Bài ca giữ nước” về mặt chính trị - xã hội và nghệ thuật cho nghệ thuật sân khấu chèo.
Mặc dù tác giả xuất thân từ diễn viên chèo, đã nhiều lần tham gia diễn xuất bộ ba chèo “Bài ca giữ nước”và đã dành nhiều thời gian, tâm huyết nghiên cứu chuyên sâu về tác giả, tác phẩm nêu trên; tuy nhiên cuốn sách không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong được bạn đọc góp ý kiến, phê bình để lần tái bản được hoàn
thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí và bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN




admin –
Sách hay