Trích đoạn
Bố tôi kể: "Hồi tàu Pháp ngoài sông Lô câu moóc-chê vào, đạn nổ gần, phạt đứt một cành lớn. Năm "tiêu thổ kháng chiến", làng cháy, lửa lan khoét một hốc cội cái. Hòa bình được mấy năm, cụ đa hồi sức, cành lá xum xuê. Ai ngờ, năm sáu bảy, bom giặc Mỹ lại ném xuống, cả tám cội đều trúng mảnh, nhựa chảy trắng đất, cành lá tan hoang. Mấy chục năm nay, tưởng cụ được yên thân, lại nghe con đường sắp chạy qua làng…".
*
Tôi chả có việc gì để làm, cũng chẳng ngủ được. Trưa tháng sáu oi bức, nắng đông đặc xuống sân, không một tẹo gió. Đám rôm sảy sau lưng cắn rấm rứt, nhoi nhói dưới làn vải áo nâu nhuộm cứng quèo. Cởi tung hàng cúc, tôi hết sức nhẹ nhàng rút tay ra, cố không để vải chạm vào da. Ngồi bệt xuống, tôi ấn mạnh lưng vào tường đất, đám rôm sảy như dề cơm cháy cắn vào da thịt, đau nhói, vỡ rôm rốp. Lưng tôi rát rạt, nóng bỏng. Chạy ù ra giếng, chiếc gàu mo cau lật qua, lật lại không chịu chìm xuống nước. Bầm mày! Ông thì chặt nát ra bây giờ. Cuối cùng tôi phải kéo cái gầu mo lên, lôi mẩu gỗ buộc cạnh gầu từ trong ra bên ngoài. Vì gầu mo cau rất nhẹ, khó múc nước, bố tôi buộc mẩu gỗ ổi một bên cho có sức nặng, kéo nghiêng để nước tràn vào. Năm tôi mười hai tuổi, nếu hỏi mơ ước điều gì, tôi sẽ nói ngay là muốn có cái gầu múc nước bằng sắt tây như bên nhà chú Hùng lái xe, sau đó mới đến có một bộ quần áo bằng vải xanh chéo để đi học. Năm nay mười bốn rồi, tôi biết không thể mơ ước hão. Hôm nào tôi sẽ sang nhà chú Hùng, học gò thùng. Tôi sẽ kiếm một miếng sắt tây và tự làm một chiếc gầu thật to.
Làng tôi là làng Nà Rậm. Núi đồi trung du, đào giếng khơi không dưới mười mét. Có nhà ở trên đồi, giếng nước sâu gần hai chục mét, từ trên ngó xuống hun hút, chóng mặt. Trước kia, mỗi xóm có cái giếng chung đào ngay ven đồi, sát mương nước, nên cũng chỉ sâu hai, ba mét. Đầu những năm thập kỉ sáu mươi, dân làng chán cảnh chen nhau gánh nước, kèo kẽo trèo dốc về nhà, nên mới có phong trào đào giếng.
Bây giờ làm sao múc cho được hai gầu nước, đổ ào lên đầu cho dịu đi rát bỏng rôm sảy. Bà nội tôi ngồi dưới gốc mít già, ngay dưới cành lớn giống con trăn khổng lồ bò từ vườn vào, chớm mái nhà trắng mốc lá cọ rách. Tôi không hiểu tại sao bà cứ tham việc khi đã tám mươi tuổi. Buổi sáng không biết bà dậy từ lúc nào, nhưng khi tôi từ trên giường nhảy xuống đất, chạy ra đầu hè đái vổng xuống, thì bà đã ngồi dựa lưng cột hè, nhai trầu bỏm bẻm, quát the thé:
- Mèo! Cái thằng chết tròng! Mai còn đái đầu nhà, bà thì cắt...
Bà nội hay rủa tôi là thằng chết tròng1, nhưng bà yêu tôi lắm. Bà bảo càng rủa chết, người ta càng sống lâu. Bà không ngủ trưa bao giờ, mang chiếc chổi rơm ra ngồi dưới gốc mít, tìm việc vặt để làm. Khi thì băm thúng rau bài ngài nấu cám lợn, khi lôi rong tre về chặt kí cách, khi ôm mớ cây sắn ra róc vỏ phơi làm củi. Bà tôi không ngồi ghế, cũng không ngồi bệt xuống đất như tôi. Bà chọn rơm nếp, chuốt sợi vàng tết chổi quét nhà, bao giờ cũng chừa lại một chiếc để ngồi. Nhìn chiếc chổi của bà, buồn cười. Nó bẹp gí, từng cọng rơm dính bết, nhẵn bóng. Thấy tôi bùm bũm ngoài giếng, bà nhổ quết trầu, mắng:
- Mèo ơi! Vày nước vừa thôi. Cảm chết!
- Sảy cắn ngứa lắm bà ạ!
- Mang vào đây bà xem nào!
Tôi chìa cái lưng cơm cháy ra. Bàn tay bà lạnh ngắt, khô quắt làm tôi rùng mình. Bàn tay khô xoa nhè nhẹ từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Hơi trầu nồng cay phả sau gáy tôi:
- Cha bố mày! Tọng mít, dứa cho lắm vào.
- Nhưng mà đói!
- Đói thì bảo bà luộc hột mít cho mà ăn chứ.
- Chả thèm! Ăn hột mít, rắm bum bủm suốt ngày.
- Cha bố mày! Con nhà lính, tính nhà quan. Thôi! Chạy ù sang nhà mọ Bích, xin nắm lá nhội, về bà xát lưng cho đỡ sảy.
Bố tôi nằm trên tấm phản gỗ giữa nhà, phành phạch quạt cọ, ngái ngủ hỏi tôi chạy đi đâu giữa trưa nắng.
- Bà bảo...
Miệng mới nói, chân tôi đã nhót ra ngoài đường. Đoạn đường trước ngõ ngập cát đến mắt cá chân, nóng rãy, những chiếc lá tre quăn queo giống con đỉa chết khô, lay lắt chìm nổi trong cát. Tôi cắm đầu chạy. Bố không cho tôi chạy chơi rông buổi trưa. Tôi khoái ra tập bơi ở ao cá hợp tác xã, hoặc trèo lên cây đa tám cội tìm tổ chim và hái quả chín. Những quả đa đỏ mọng, to bằng quả xoan, ăn chát và có vị ngọt. Tôi tranh ăn với lũ chim chào mào. Bọn chào mào mũ đen nhọn hoắt, lông đít đỏ choét bay chuyền từ cành này qua cành kia, lao nhao chửi tôi giành ăn.
Nhà mọ Bích gần cây đa tám cội. Tôi chẳng dại gì mà vào xin lá nhội ngay, nếu chưa trèo cây chơi một trận đã đời. Nói thật, tôi ghét mọ Bích, cũng trạc tuổi bà nội nhưng bà này lắm điều, chua ngoa. Cái mặt choắt, mắt sâu hoắm nhìn thô lố, mũi nhọn, cằm nhọn, trông chẳng khác gì mụ phù thủy. Một lần trời mưa, tôi và thằng Dũng cột trâu dưới gốc đa, chui vào vườn mọ Bích trộm bưởi. Chiều ấy, hai thằng chăn trâu được nghe mụ phù thủy chửi tàn độc: "Cha tiên nhân nhà mày nhá. Bưởi nhà bà là vàng là ngọc, là rồng là phượng, mày đem về nó hóa thành đá, thành rắn, thành rít. Mày ăn bưởi của bà, nó rách cổ, nổ hầu thành trăm mảnh, nghìn mảnh nhá". Thằng Dũng tức quá, bảo tôi giữ trâu, rồi nhặt một nắm đá, nghiến răng ném ào ào lên mái nhà mọ Bích. Việc làm của nó khác nào "lạy ông tôi ở bụi này". Mọ Bích xăm xăm cây gậy sang tận nhà thằng Dũng và nhà tôi. Bố thằng Dũng bênh con: "Kệ xác bà già lắm điều. Có quả bưởi chua mà moi móc ba đời, bốn họ người ta ra chửi". Bố tôi sẵn bó cây sắn bà nội đang róc củi, vớ một cây vụt vào đít tôi vô hồi kỳ trận: "Mày có chừa không hả cu? Ăn trộm quen tay, ngủ ngày quen mắt. Tao đánh tuốt xác mày ra". Bà nội giằng cây củi, loạng choạng suýt ngã:
- Mèo! Quân vũ phu! Đánh con thế hử!
Bố vội buông cây củi, đỡ lấy bà:
- Ngã bây giờ! Mọ cứ nuông chiều quá, nó sinh hư.
Nghĩ đến trận đòn, tôi lại thấy ghét mọ Bích. Chẳng thèm vào nhà mọ ấy nữa. Sảy cắn mấy hôm cũng hết chứ gì.
...





Reviews
There are no reviews yet.