Tác phẩm đoạt Giải thưởng Sông Mê Kông lần thứ IX
Suốt từ những năm kháng khốc liệt của chiến tranh, Nhà xuất bản QĐND luôn có những người con trong đoàn quân tình nguyện đó để chiến đấu, để lựa chọn, hun đúc và lưu giữ những áng văn chương đẹp về tình đoàn kết, sống chết có nhau của ba đất nước tắm chung một dòng sông Mê Kông đầy thơ mộng. Và từ đó, những tác phẩm viết về những người lính tình nguyện Việt Nam trên đất nước Lào, Capuchia đã gặt hái được khá nhiều kết quả rất đáng trân trọng trong khu vực, mà cụ thể là Giải thưởng Sông Mê Kông. Điển hình nhất là trong năm 2018 này – năm mà Hội Nhà văn Việt Nam là nước chủ nhà, “đăng cai quyền trao giải” đã có hai tác phẩm của Việt Nam giành giải thưởng. Một điều đặc biệt và cũng hết sức hiếm gặp trong trên văn đàn đó là, hai tác phẩm của Việt Nam đoạt giải lần này lại là hai tác phẩm của hai tác giả là hai người bạn thân học cùng một lớp, là đồng đội cùng chung một chiến hào trong đoàn quân tình nguyện năm nào và cùng viết về một đề tài, về tình nghĩa sắt son của hai đất nước anh em Việt Nam – Lào; đặc biệt hơn nữa, hai tác phẩm lại được xuất bản cùng một năm (2017) của cùng một Nhà xuất bản, đó là tiểu thuyết “Nhịp cầu” của Lê Văn Vọng và “Người về từ sông Nậm Nơn” của Nguyễn Ngọc Mộc.
THỦY CHUNG MỘT ĐỀ TÀI
“KHÔNG MỚI NHƯNG CHẲNG BAO GIỜ CŨ”
Nguyễn Minh Quân
1. Chung thủy một đề tài
Văn học viết về đề tài “Lực lượng vũ trang – Chiến tranh cách mạng” luôn là một hướng đi được ưu tiên hàng đầu của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, điều đó thì có lẽ mọi người ai cũng biết. Song, có một điều mà ít người ngờ tới, có một dòng văn học vẫn chảy mãi và là đề tài chung thủy mà những người lính cầm bút luôn ưu tiên lựa chọn, đó là “văn học viết về tình hữu nghị của các nước Đông Dương”. Đây là đề tài không hiếm nhưng cũng không xuất hiện nhiều trên văn đàn Việt Nam. Không phải vậy mà chạy dọc chiều dài lịch sử, kể từ khi Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp cùng Hội Nhà văn các nước trong khu vực hằng năm xét Giải thưởng Sông Mê Kông về văn học nghệ thuật thì hầu như những tác phẩm văn học viết về đề tài này của Nhà xuất bản QĐND ấn hành đều xuất hiện và chiếm một tỉ lệ không nhỏ của giải thưởng. Có được điều này không phải là sự ngẫu nhiên hay may mắn, mà thực chất, đối với những người làm sách văn học của Nhà xuất bản QĐND luôn chú trọng và quan tâm đến mảng đề tài này. Hơn nữa, lợi thế của Nhà xuất bản QĐND là những tác phẩm văn học viết về tình hữu nghị Việt Nam-Lào-Campuchia phần nhiều các nhà văn thường đi sâu khai thác từ những câu chuyện của cuộc kháng chiến trường kỳ của ba nước Đông Dương chống lại một kẻ thù chung. Đó là những năm tháng mà các chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại hy sinh bước vào lửa đạn để giúp bạn. Đó là những ngày mà bộ đội Việt Nam vượt Trường Sơn để cùng với các bộ tộc Lào, cùng với bộ đội Pa Thét Lào kiên cường chiến đấu, giành độc lập dân tộc cho xứ sở hoa Chăm Pa từ sự điên cuồng xâm lược của bọn đế quốc thực dân. Rồi tiếp nữa, không chỉ có Lào, Bộ đội tình nguyện Việt Nam lại đồng cam cộng khổ với những người dân của xứ sở chùa Vàng, chung lưng đấu cật để cứu một dân tộc thoát khỏi nạn diệt chủng – một kiếp nạn khủng khiếp và man rợ nhất của thế kỷ XX. Hình ảnh “Anh bế trên tay em bé Campuchia/ Dỗ nín em bằng bầu vú đá của nàng…” mà nhà thơ Anh Ngọc đã tạc lại sự khốc liệt của nạn diệt chủng trong trường ca “Sông Mê Kông bốn mặt” có thể là tất cả.
Suốt từ những năm kháng khốc liệt của chiến tranh, Nhà xuất bản QĐND luôn có những người con trong đoàn quân tình nguyện đó để chiến đấu, để lựa chọn, hun đúc và lưu giữ những áng văn chương đẹp về tình đoàn kết, sống chết có nhau của ba đất nước tắm chung một dòng sông Mê Kông đầy thơ mộng. Và từ đó, những tác phẩm viết về những người lính tình nguyện Việt Nam trên đất nước Lào, Capuchia đã gặt hái được khá nhiều kết quả rất đáng trân trọng trong khu vực, mà cụ thể là Giải thưởng Sông Mê Kông. Điển hình nhất là trong năm 2018 này – năm mà Hội Nhà văn Việt Nam là nước chủ nhà, “đăng cai quyền trao giải” đã có hai tác phẩm của Việt Nam giành giải thưởng. Một điều đặc biệt và cũng hết sức hiếm gặp trong trên văn đàn đó là, hai tác phẩm của Việt Nam đoạt giải lần này lại là hai tác phẩm của hai tác giả là hai người bạn thân học cùng một lớp, là đồng đội cùng chung một chiến hào trong đoàn quân tình nguyện năm nào và cùng viết về một đề tài, về tình nghĩa sắt son của hai đất nước anh em Việt Nam – Lào; đặc biệt hơn nữa, hai tác phẩm lại được xuất bản cùng một năm (2017) của cùng một Nhà xuất bản, đó là tiểu thuyết “Nhịp cầu” của Lê Văn Vọng và “Người về từ sông Nậm Nơn” của Nguyễn Ngọc Mộc. Chỉ riêng điều đặc biệt này thôi, cũng có thể thấy rằng Nhà xuất bản QĐND luôn quan tâm và thủy chung với văn học viết về đề tài này như thế nào.
2. Chung và riêng




Hai tác phẩm chung một đề tài, chung một chí hướng, một mục tiêu nhưng khi đặt cạnh nhau và so sánh nó lại hoàn toàn khác nhau về tư duy, bút pháp và lối khai triển của hai “người bạn đồng hành” là hai người lính cầm bút. Trong khi “Người về từ sông Nậm Nơn” mang một phong cách văn học thuần túy, chân thực; khắc họa những cống hiến của người lính tình nguyện Việt Nam trên đất bạn, những đớn đau mất mát hy sinh không gì có thể bù đắp được… Thì “Nhịp cầu” lại mang một tư duy mới, tư duy của sự bứt phá, tìm tòi và tự làm mới mình của tác giả. Đó là các sử dụng thi pháp nghệ thuật lồng ghép, mượn quá khứ để kể chuyện, có quay ngược, hồi cố… nhưng cái cụ thể rõ ràng nhất là cuộc sống hiện tại và sự bền chặt của nghĩa tình mãi mãi không thể tách rời.
Đọc lại hai tiểu thuyết “Nhịp cầu” và “Người về từ sông Nậm Nơn”, người đọc sẽ cảm nhận được sự rõ ràng trong cách chọn đề tài của hai người lính cầm bút. Đó là tình đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Việt -Lào, được phác họa bằng cách mượn những “mối tình” của nhân vật họ xây dựng. Tình yêu của Hà và Hủa Chay trong “Nhịp cầu” và của Tiểu đội trưởng Sum với Phon Sa Vẳn – người con của gái đẹp nhất của bộ tộc Lào ở bản Nậm Xon nằm trong khe núi Pu Lôi. Một mối tình thời hiện tại và một mối tình của quá khứ đạn bom. Ở hai thời khắc, hai hoàn cảnh khác nhau, song có một của sự đủ đầy của những học hành và của một tương lai đẹp; còn một là của những năm tháng khốc liệt dưới mưa bom bão đạn, của cái chết và sự sống, của hoàn cảnh và khó khăn… Và, cả hai mối tình đẹp ấy đều có chung một quan điểm, đó là cái kết đẹp, hạnh phúc và sự mĩ mãn.
Đọc “Nhịp cầu” người đọc sẽ bị hút ngay bởi cái tên tiêu. Đó là một câu chuyện lồng ghép của quá khứ và hiện tại. Một phần kể về những người lính quân tình nguyện Việt Nam trong những năm kháng chiến ác liệt: Đó là mùa khô năm 1972, trong đoàn Quân Tình nguyện Việt Nam vượt Trường Sơn sang chiến đấu giúp bạn Lào có tiểu đội trưởng Tâm. Anh nhập ngũ khi đang học năm cuối trường Đại học Giao thông vận tải. Những trận đánh độc lập, rồi những trận đánh phối hợp liên quân Lào – Việt liên tục giành chiến thắng trên khắp mặt trận thượng Lào, từ vùng Cánh Đồng Chum lên tới cố đô Luông Pha Băng. Giữa các trận đánh là khoảng thời gian hiếm hoi để những chiến sĩ của hai quân đội Lào – Việt thể hiện tình cảm, sự quan tâm đến nhau. “Trong những ngày Hồng đau ốm, các chiến sĩ đại đội nữ pháo binh Xi Xúc vẫn thường qua lại thăm anh. Xảo May – cô gái có đôi má lúm đồng tiền thì coi anh như người anh của mình. Có quả chuối, bát canh, lời động viên cô đều dành cho anh”. Cô còn bộc bạch với mọi người: “Các anh ai ốm chúng em cũng quan tâm thế mà. Nếu ở bên Việt Nam các anh ốm sẽ được chị em bên đó động viên, các anh sang đây, chúng em phải có trách nhiệm thay họ chứ”.
Để làm cho người đọc thấy rõ hơn những tình cảm không thể tách rời của họ trong lúc bình yên cũng như trong những giây phút cam go, ác liệt nhất. Bằng lối viết tả thực, Lê Văn Vọng đã miêu tả một trận đánh phối hợp của liên quân Việt – Lào: “Sau khi chiếm lĩnh trận địa một cách an toàn, đại đội trưởng Tâm cho triển khai đội hình chờ giờ G. Từng phút trôi qua nặng nề… Bỗng ầm ầm ầm… mặt đất rung chuyển. Lửa chớp những nơi trinh sát đánh dấu trên bản đồ. Tâm reo lên, chia sẻ niềm vui sướng với Khăm Xa: Trúng rồi Khăm Xa ơi, trúng rồi…”.
Những ngày cùng sát cánh bên nhau chiến đấu, đại đội trưởng Tâm và Khăm Xa – một cán bộ biệt phái của Quân giải phóng Nhân dân Lào đã trở thành anh em kết nghĩa. Rồi sau này, cũng chính Khăm Xa đã là người chôn cất Tâm khi anh hy sinh trong một trận đánh giành lại cao điểm đồi Ông Tượng. Trong một tình huống éo le, Tâm đã chọn cho mình cách giải quyết “xả thân vì bạn”…
Đó là câu chuyện của quá khứ. Còn bây giờ, “Nhịp cầu” lại tiếp tục được xây đắp, được nối liền bằng niềm tin, bằng tình yêu của thế hệ trẻ hôm nay.
Sau ba mươi năm của cuộc chiến tranh, Nguyễn Hà – giọt máu cuối cùng của người chiến sĩ tình nguyện Nguyễn Thành Tâm ngày ấy giờ đảm trách việc xây dựng cây cầu ngay chính trên dòng sông nằm bên quả đồi Ông Tượng mà cha anh đã ngã xuống năm nào. Tại công trường, Nguyễn Hà tình cờ gặp lại Hủa Chay – cô sinh viên Lào mà anh đã từng giúp đỡ với tư cách người thầy để làm luận án tốt nghiệp Đại học Giao thông Hà Nội 5 năm trước. Một bất ngờ nữa của sự sắp đặt khi Hủa Chay lại chính là cô con gái duy nhất của vợ chồng người em kết nghĩa, người tự tay chôn cất Nguyễn Thành Tâm trên quả đồi Ông Tượng năm nào.
Với Nguyễn Hà, ngoài nhiệm vụ đảm bảo chất lượng, tiến độ công trình, còn một việc vô cùng quan trọng là phải thực hiện lời hứa với mẹ khi tiễn anh đi – đó là tìm kiếm thông tin về người cha đang nằm lại ở vùng đất xa xôi này.
Mâu thuẫn của câu chuyện đã bắt đầu khi tình cảm giữa hai người ngày càng sâu đậm. Trong công việc, đôi khi họ cũng không tránh được va chạm, bởi Hủa Chay là một cô gái tính cách mạnh mẽ, không hề tránh né đối tác lúc tranh luận, trao đổi công việc. Ngày Hà phát lệnh san đồi, Hủa Chay bỏ công trường về nhà ở Viêng Chăn: “Chợt Hà nhận ra Hủa Chay đang từ dưới chân đồi đi như chạy lên. Đôi kính cận thỉnh thoảng lại bắt nắng loé sáng. Tới trước mặt Hà, vẻ mặt cô trở nên nghiêm trọng: “Thế là anh vẫn quyết định cho san đồi Ông Tượng à?”. Hà hơi bối rối, chưa kịp trả lời thì Hủa Chay đã nói: “Thế thì anh ở đấy mà làm”. Rồi cô bật khóc đi nhanh xuống chân đồi”.
Trở lại công trường, Hà lên Viêng Chăn tìm Hủa Chay. Cuộc gặp bất ngờ với ông Khăm Xa và bà Xảo May (bố, mẹ Hủa Chay) đã cho anh hiểu ra cái điều bí mật nằm trong quả đồi Ông Tượng và lý do thật mà Hủa Chay yêu cầu anh không được san đồi. Thì ra trên chính quả đồi ấy có ngôi mộ của một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam – người đó chính là đại đội trưởng Tâm – bố anh, do ông Khăm Xa chôn cất. Dù bị tai biến nhiều năm, phải di chuyển bằng xe lăn, nhưng ông Khăm Xa vẫn minh mẫn, khi biết Hủa Chay đi giám sát thi công cầu Nậm Ngừm trên vùng đất ấy, ông đã dặn con điều mà sau đó cô quyết thực hiện. Lời ông Khăm Xa trong câu chuyện với Hà khi Hủa Chay không có mặt ở nhà: “Trên thế giới này có lẽ ít có dân tộc nào lại có mối quan hệ thắm thiết thuỷ chung như Lào và Việt Nam. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nam đã không tiếc máu xương, cùng với Lào, chiến đấu giải phóng đất nước, hoà bình lại giúp Lào xây dựng, phát triển kinh tế. Tình nghĩa ấy không gì sánh được”.
Không mượn bối cảnh, cũng không thông qua lời kể của ai đó, “Nhịp cầu” là câu chuyện trực diện với tâm thế của người trong cuộc. Những trang viết như được chắt ra từ xương máu của người chiến sĩ trong những năm tháng ác liệt trên chiến trường; và giờ đây, trong hoà bình, lại đồng cam cộng khổ, vượt qua khó khăn thử thách giữa những người bạn Lào và Việt Nam. Tình hữu nghị đặc biệt thuỷ chung son sắt giữa hai dân tộc cũng được mô tả một cách đậm đặc qua từng trang viết.
Còn ở “Người về từ sông Nậm Nơn”, tác giả cũng là người lính đã trực tiếp cầm súng trong đoàn quân tình nguyện ấy lại có một hướng đi hoàn toàn khác. Chạy dọc tác phẩm là những câu chuyện được chép lại theo một lối tư duy truyền thống, đó là một “trật tự tuyến tính theo niên biểu của thời gian”. Mở đầu là câu chuyện kể về những năm tháng ác liệt của những người lính tình nguyện bên dòng sông Nậm Nơn. Ở đó, tiểu đội trưởng Sum đã cùng đồi đội vừa chiến đấu, vừa phối hợp cùng nhân dân các bộ tộc Lào của bản Nậm Xon ở thung lũng Pu Lôi tổ chứng dùng những con thuyền độc mộc để đưa đón thương binh, tử sĩ qua sông. Dòng sông chảy xiết, nước sông vào mùa mưa ầm ào hung dữ, trên đầu máy bay địch quần thảo… và họ, những người lính tình nguyện và nhân dân bên kia sông đã kiên cường bám trụ để vượt qua. Rồi câu chuyện cứ thế trôi theo dòng chảy của thời gian, cùng với những trận đánh vô cùng khốc liệt đã cuốn theo tất cả. “Những chuyến thuyền độc mộc của nhân dân Lào trong bản Nậm Xon đưa thương binh, tử sĩ qua sông trong mấy tháng an toàn…”. Rồi sau một trận oanh tạc của máy bay địch: “Ông Khăm Bun Xèng lên tiếng gọi, nhưng chỉ có tiếng nước va đập vào sườn núi đá ầm ầm. Lặng đi một lát, ông Khăm Chăn nhìn xuống bến sông nói với ông Khăm Bun Xèng: “Ông ơi, thuyền ở bến sông và anh em bộ đội Việt Nam, mấy căn hầm tan nát hết rồi, không còn gì…”.
Thường, câu chuyện chiến tranh chỉ là như vậy, song, đối với “Người về từ sông Nậm Nơn” thì nó lại mới chỉ là “sự khởi đầu” cho những điều kết thúc. Bởi sau trận oanh tạc ấy, tưởng như tất cả đã hy sinh, tất cả đã không còn gì nữa. Nhưng không, trong những phút giây khốc liệt ấy lại chính là phút giây mãnh liệt của sự sống. Và, sự sống ấy cũng là “sự khởi đầu” của những câu chuyện dài thăm thẳm với thời gian: “… Ông Khăm Chăn cõng Sum run rẩy leo lách qua những tảng đá xuống mép sông, ông Khăm Bun Xèng bê xác ông Khăm Xỉn xuống chỗ ông Khăm Chăn đặt Sum bên tảng đá…Bà con dân bản thấy ông Khăm Chăn hớt hải trở về, chưa ai dám hỏi thì ông mếu máo: “Mấy người bộ đội, thương binh, tử sĩ Việt Nam và các ông Phon Pha Muốt, Kẹo Bun Ken và Khăm Xỉn không còn ai, bom đánh họ bay xuống sông, chỉ còn xác ông Khăm Xỉn và anh bộ đội Việt Nam tên Sum thôi…”.
Tiếp đó là “quãng đời dài lưu lạc của Sum” – người lính tình nguyện, nhân vật chính của câu chuyện. Sau khi trở về từ cõi chết, Sum đã trở thành một con người khác, hay nói đúng hơn, anh đã mất hoàn toàn trí nhớ và bắt đầu “cuộc hành trình” để trở nhành người lính PaThét Lào và người công dân nước Lào chính hiệu…
Câu chuyện trôi theo thời gian và cuốn theo đó là một chuỗi dài những chi tiết độc đáo nhưng hết chân thực để tạo nên những nét đặc sắc của “ngày trở về”. Sau hơn 40 năm, người chiến sĩ tên Sum ấy đã trở lại quê hương như một “Việt kiều” bất đắc dĩ. Và mặc dù, mọi thứ đã đổi thay, song… tác giả đã đem đến cho người đọc một cái kết rất bất ngờ của người-trở-lại. Về thăm lại Việt Nam, thăm lại quê hương và thắp nén tâm nhang cho mẹ, ông Sum đã trở về với bản Nậm Xon, với bà con dân tộc Lào, với quê hương thứ hai của ông, nơi đã sinh ra ông một lần nữa trong chiến tranh và đem lại cho ông cuộc sống hôm nay…
Có thể nói rằng, với hai tác giả Lê Văn Vọng và Nguyễn Ngọc Mộc – họ là những người lính đã từng cầm súng, từng chiến đấu trên chiến trường ác liệt trong những năm tháng ấy, họ như hiểu thấu hơn ai hết về những ngọt bùi cay đắng của khói lửa chiến tranh, và giờ đây, khi cuộc chiến đã lùi xa, song trong họ vẫn luôn đau đáu nỗi day dứt không bao giờ phai nhạt. Đó là sự ân tình, sự đùm bọc, những sẻ chia, ngọt bùi cay đắng của nhân dân các bộ tộc Lào với những người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam.
Dẫu rằng, hai tác phẩm đi theo hai xu hướng khác nhau, hai phương pháp tiếp cận khác nhau, song, cả hai đều đã kể những câu chuyện không mới nhưng sẽ không bảo giờ cũ, bởi ở nó có sức hấp dẫn; dù không bi tráng nhưng đã lấy đi nước mắt của bao người. Rồi tất cả lại vỡ òa hạnh phúc trong niềm tin của quả ngọt. Đó chính là tình nghĩa, là sự sắt son, là tình yêu không thể tách rời của hai dân tộc Việt – Lào.

