Yên ngựa sau cuộc chiến

Mươi năm trở lại đây, cùng với vấn đề “giảm nhiệt văn hóa đọc” trong công chúng yêu văn học, có hiện tượng lạnh nhạt dần với các tác phẩm viết về chiến tranh. Nhưng một mạch chảy văn học khác xuất hiện như một phương pháp sáng tác mới về chiến tranh dần dần chiếm được cảm tình độc giả: Lối viết trực diện, chân thực, hấp dẫn bằng chính sự kiện và chi tiết, những chi tiết và sự kiện lưu lại trong ký ức người lính trận, kết tinh như hạt ngọc trong con trai, trầm hương trong cây dó… tinh chất, điển hình và lấp lánh hơn mọi thủ pháp hư cấu. Có vẻ như những trí thức cầm súng vào những năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng khi sắp bước vào tuổi “thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ” bỗng bừng tỉnh. Một loạt những tác giả cựu lính trận xuất hiện và lập tức khẳng định được chỗ đứng: Nguyễn Xuân Sùng, Nguyễn Trọng Luân, Như Thìn, Xuân Diệu, Nguyễn Khắc Nguyệt, Nguyễn Khắc Diệu… Và, lúc này, đọc xong bản thảo văn xuôi “Yên Ngựa sau cuộc chiến” của một cựu sinh viên Trường Đại học Sư phạm Vinh, một trong bảy chiến sĩ sống sót trong Tiểu đội Văn Sử 15 tay súng sau bốn năm chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên – Huế, tôi muốn ghi tên ông vào danh mục những tác giả trên đây: Nhà giáo Hoàng Đình Bường.

Tác giả: Hoàng Đình Bường

Kích thước: 13 x 19

0

Liên hệ ngay

Lời giới thiệu


Mươi năm trở lại đây, cùng với vấn đề "giảm nhiệt văn hóa đọc" trong công chúng yêu văn học, có hiện tượng lạnh nhạt dần với các tác phẩm viết về chiến tranh. Nhưng một mạch chảy văn học khác xuất hiện như một phương pháp sáng tác mới về chiến tranh dần dần chiếm được cảm tình độc giả: Lối viết trực diện, chân thực, hấp dẫn bằng chính sự kiện và chi tiết, những chi tiết và sự kiện lưu lại trong ký ức người lính trận, kết tinh như hạt ngọc trong con trai, trầm hương trong cây dó... tinh chất, điển hình và lấp lánh hơn mọi thủ pháp hư cấu. Có vẻ như những trí thức cầm súng vào những năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng khi sắp bước vào tuổi "thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ" bỗng bừng tỉnh. Một loạt những tác giả cựu lính trận xuất hiện và lập tức khẳng định được chỗ đứng: Nguyễn Xuân Sùng, Nguyễn Trọng Luân, Như Thìn, Xuân Diệu, Nguyễn Khắc Nguyệt, Nguyễn Khắc Diệu... Và, lúc này, đọc xong bản thảo văn xuôi "Yên Ngựa sau cuộc chiến" của một cựu sinh viên Trường Đại học Sư phạm Vinh, một trong bảy chiến sĩ sống sót trong Tiểu đội Văn Sử 15 tay súng sau bốn năm chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên - Huế, tôi muốn ghi tên ông vào danh mục những tác giả trên đây: Nhà giáo Hoàng Đình Bường.

Là một sinh viên "gác bút nghiên" lên đường nhập ngũ và tham gia chiến đấu những năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng, như nhiều sinh viên Văn khoa khác, Hoàng Đình Bường mang theo trong bản thể cái "hội chứng chữ nghĩa" trong mỗi bước hành quân vào chiến trường và trong từng trận đánh, trong mỗi giờ "giải lao" giữa hai đợt phản kích. Với con mắt của một sinh viên năm thứ ba chuyên ngành Văn, mới bập vào ngày hành quân đầu tiên trên cung đường Trường Sơn, tác giả đã thấy cái mà có thể cả đơn vị hành quân qua vô tình không để ý, một chi tiết đặc tả độc đáo dành cho trái tim và phong cách của người trí thức văn nghệ gác bút nghiên... "Ở những "bãi khách" chưa bị đánh phá còn hằn nguyên dấu vết người qua lại. Trên những thân cây khắc đầy tên tuổi, địa chỉ, năm tháng và có cả những câu thơ xưa phảng phất buồn, triết lý: "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" (Xưa nay chinh chiến mấy ai về)

Tác phẩm như luôn tựa theo sườn của một cuốn nhật ký chiến trường, nhưng, rất may mắn là với giọng điệu có "văn", cả trong câu chữ, trong tiết tấu, trong khắc họa chân dung... Không tuân theo mạch truyện và số phận nhân vật của tiểu thuyết, nhưng cái chức năng lớn nhất của văn xuôi dung lượng lớn thì tác giả đã thực hiện xuất sắc: Dựng lại chân dung một chiến trường thuộc vào hàng ác liệt nhất của cuộc chiến tranh giải phóng. Bốn năm, xấp xỉ 1.500 ngày đêm. Ở chân dung và tâm hồn tác giả (cũng là nhân vật chính của tác phẩm) luôn hiện hữu mâu thuẫn điển hình của cả một thời đại: "Dù rằng đời ta thích hoa hồng/ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng". Đó là, trái tim của một người chỉ biết yêu thương cả cành cây ngọn cỏ, tưởng suốt đời chỉ "cúi đầu trước hoa mai", trước trang giấy với những giá trị nhân văn vĩnh cửu, lại phải nheo mắt ngắm mục tiêu và ngón tay xiết cò mỗi lần cho mỗi viên đạn B-41 phóng ra có thể phá tan một lô cốt, tiêu diệt một xe tăng hay một cụm bộ binh địch... Bốn năm như thế với vài lần trả giá bằng những vết thương chảy máu khắp cơ thể, không lạ để thấy phải hơn bốn mươi năm sau Hoàng Đình Bường mới lắng lại, mới đủ độ kết tinh và bình tĩnh để dựng lại chân dung cả chiều rộng, chiều sâu của không gian và chiều dài của thời gian một cuộc chiến đẫm máu từng ngày. Dựng lại, với rất nhiều những gam màu phù hợp, và đường nét, khuôn hình từ đại cảnh, toàn cảnh rộng, toàn cảnh hẹp, trung cảnh, cận cảnh và đặc tả. Và nữa, không thể không ghi nhận ở trong những trang văn có diễn giải thành công dòng chảy tâm lý, sự biến động của tâm hồn nhân chứng - nhân vật.

Đây là một đoạn văn ngắn có đủ các cỡ cảnh được vẽ với một tiết tấu nhanh khiến trái tim người đọc cũng đập theo dồn dập: "...Mươi phút sau, chiếc xe tăng thứ ba trong tốp thứ hai cũng đã xuất hiện trong kính ngắm, tôi bấm cò. Gần như cùng một lúc, bốn quả đạn lao ra nổ rền, khói lửa trùm kín tốp xe tăng địch. Vừa lắp xong quả đạn thứ hai vào nòng súng thì đạn ĐK và 20 ly của địch nổ chát chúa vào sườn đồi, quét phăng từng vạt cây, lộ rõ hầm hào công sự. Đạn thẳng và mảnh trái phá bay vèo vèo. Một số chiến sĩ bị thương kêu gào cả hai phía trận địa. Địch nổ súng liên tục áp đảo, không cho quả

B-40, B-41 thứ hai nào được bắn ra. Đoàn xe tăng hướng nòng lên đồi bắn thẳng, bụi khói mù mịt. Cây cối, đất đá bay lên trời như bị một trận bão lớn càn qua quét lại". Chưa đầy mười dòng đã miêu tả đủ một trận đánh xe tăng địch không thắng lợi, mà trong đó kịp đếm cả viên đạn thứ hai chưa thể bắn, là những đoạn văn có độ nén lớn, những đoạn văn ngắn có thể bung ra dăm bảy trang. Đúng là "Chiến tranh không phải trò đùa". Là lính chiến, tư liệu được soi chiếu dưới con mắt của một người đã "có nghề" 40 năm sau nhìn lại, Hoàng Đình Bường đoạn tuyệt hẳn với phong cách phản ánh hiện thực lạc quan tếu một thời, như kiểu: "Còn gì vui hơn đường ra trận mùa xuân", "mỗi bước ta đi vùi thây quân giặc cướp nước, mỗi bước ta đi diệt tan bao bốt đồn thù... mỗi bàn chân ta ghi thêm một chiến công". Tiểu đội Văn Sử của tác giả vào tham gia chiến đấu có 15 tay súng sinh viên. Sau bốn năm, nhìn lại, tám người (hơn một nửa) nằm lại mảnh đất Trị Thiên. Bốn người, trong đó có tác giả, mang theo thương tích vào quân y viện. Phiên hiệu Trung đoàn 6 của ông sau mười năm tham chiến (1965 -1975) con số liệt sĩ gấp mười lần con số biên chế (12.2000/1.200). Hoàng Đình Bường tuân thủ phương pháp hiện thực nghiêm nhặt. Từng nhiều lần nhặt thi thể đồng đội và phải sau 40 năm, tác giả đủ dũng cảm (và lạnh lùng) để viết: "Đồng chí Tạo vẫy tay ra hiệu nghỉ một chút để định hình và lấy lại sức. Mới vài phút thì một quả M-79 nổ, xé tan vùng hạ bộ, cướp mất sinh mạng đồng chí đại đội phó. Chúng tôi đặt thi thể đồng chí chỉ huy trong một lùm cây ven khe, đi tiếp". "Tiểu đội phó Phạm Thế Hùng (cán bộ Trường Đại học Sư phạm Vinh quê ở Nghĩa Đàn, Nghệ An) cùng đồng đội di chuyển thoăn thoắt cản bước quân giặc bằng những loạt đạn AK điểm xạ chắc nịch...". Một số chiến sĩ hy sinh tại chỗ trong đó có Lê Ngọc Sỹ. Sỹ nằm ở tư thế nghiêng, chân duỗi chân co, tay vờn ra phía trước, máu, mưa ướt đẫm". Đó là những dòng văn tả chân, trực diện, không cần hư cấu thêm một câu chữ nào nên không gì có thể chân thực hơn, vắt kiệt sự thờ ơ của độc giả.

Là người trong cuộc, giữa cuộc, cây bút cựu chiến binh Hoàng Đình Bường không ngại ngần đề cập đến một hiện tượng rất nhạy cảm ở chiến trường: Đấu tranh tâm lý giữa cái sống và cái chết, giữa bảo toàn mạng và nghĩa vụ. Con người, không phải sắt đá, có đủ ái, ố, hỷ, nộ, cái cao thượng, cái thấp hèn. Chạm đến trạng huống này, vẫn là phản ánh trực diện nhưng trái tim nhân đạo của chàng sinh viên khoa Văn, của người cầm bút có hơn ba mươi năm trên bục giảng vẫn nghiêng về chiều thông cảm tha thứ. Đây là tình cảnh những người lính mới ra khỏi quân y viện dã chiến ở chiến trường: "Có tốp tìm về các đơn vị 559 gần đó. Có tốp xin nhập vào bộ đội phòng không và có những nhóm nhỏ quay lui tìm đường "B quay", không về mặt trận, trong đó có cả lính sinh viên". "Địch - ta ở vào thế cài răng lược, giành giật nhau từng quả đồi loang lổ máu. Thắng thua diễn ra liên tục. Chiến sĩ cũ lộ vẻ mệt mỏi, ngán ngẩm chiến tranh. Chiến sĩ mới ngơ ngác, có người hoang mang khi nghe chiến sĩ cũ kể về những trận đánh ác liệt thời gian qua. Chính sự gian khổ và nguy hiểm đã làm không ít chiến sĩ vượt lên miền Tây nhập vào các đơn vị khác trong đó có cả ba lính sinh viên khoa Sinh và khoa Lý (xin phép không nêu tên)". "Có chiến sĩ không chịu nổi tiếng nổ đinh tai và sự ác liệt, giơ tay lên cửa phụ "xin" một vết thương, may ra thoát khỏi chiến trường". Đây có lẽ là "vết thương chiến tranh" lần đầu được vén lên "thăm" lại nhưng tác giả biết dừng lại ở lằn ranh giới, không mổ xẻ thêm. Hoàng Đình Bường đã tuân thủ phong cách sáng tác "chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt" một cách quyết liệt ít thấy trong đội ngũ các tác giả viết về chiến tranh. Và còn nhiều góc khuất nữa mà chỉ có "người giữa cuộc" mới nắm được chính xác và đủ bản lĩnh để chạm tới.

Vẫn là với trái tim của người lính sinh viên Văn khoa, giữa những trang văn thản nhiên miêu tả sự tàn khốc của chiến tranh, tác giả không khỏi có cảm giác bàng hoàng cảm khái: Chiến tranh đã đánh cắp tuổi thanh xuân một cách man rợ trong bão tố đạn bom và cả thời hậu chiến. Dù sao, đánh xe tăng đường 12 cũng là một kỷ niệm buồn đáng nhớ. Lịch sử không ghi những điều vụn vặt lại tổn thất nặng nề nhưng những người lính trực tiếp tham gia chiến trận thì máu vẫn chảy trong mắt, không thể quên lãng". "Việc chuẩn bị vũ khí, súng, đạn, gạo, cơm và điều nghiên trận địa là chuyện bình thường. Đào huyệt chuẩn bị cho cái chết của chính mình thì thật khó tin, kiêng cữ vô cùng. Vậy mà ở đơn vị chúng tôi việc đó diễn ra gần như bình thường".

Là bút ký tư liệu hấp dẫn người đọc bởi tính chân xác của sự kiện, chi tiết, "Yên Ngựa sau cuộc chiến" bất ngờ có được một chương nhỏ xây dựng nhân vật (nhân chứng) rất giản dị lại rất thành công. Tiêu đề "Người lính giữ kho" đưa ta làm quen với một người lính sinh viên Văn khoa quê xứ Nghệ: Nhỏ con, sức khỏe yếu, mắt kém... trúng tuyển trước sự ngỡ ngàng của nhiều người. Đậu Công Nhân đến với chiến trường Trị Thiên trong dáng hình tiều tụy, hốc hác, luôn đi cuối đội hình. Những dòng văn kể lại chuyện hai người lính khoa Văn gặp nhau giữa rừng già, và người lính nhỏ bé nhút nhát giữ kho gạo đã liều mình phá kỷ luật bớt ít gạo sấy để đồng đội, đồng môn mang về cứu nguy cho đơn vị chiến đấu khiến độc giả rơi lệ. Người lính ấy có bốn năm ở một mình giữa rừng già với kho gạo, chống chọi với cô đơn, buồn nhớ. Hết chiến tranh, anh trở về học tiếp đại học, ra trường đành phận dạy cấp hai ở một huyện miền núi: "Vẫn cần mẫn, cẩn thận và chu tất như những ngày làm thủ kho ở chiến trường, ai cũng mến mộ... bạn bè xác nhận Nhân mất ở tuổi sáu ba". Thật kỳ lạ, cả một tập văn hừng hực lửa chiến trận với những chiến công và những sự hy sinh bi hùng như tiểu thuyết mà nước mắt độc giả lại rơi vào một chiến sĩ vô danh làm công việc giữ kho bình thường. Nghệ thuật kể chuyện khắc họa nhân vật của Hoàng Đình Bường bất ngờ thành công lớn: "Bốn năm ở chiến trường, ở rừng. Gần 40 năm nữa Nhân vẫn… ở rừng. Chiêm nghiệm chuyện đời, chuyện người, chuyện mình, biết đâu Đậu Công Nhân ở bên đó đang viết hồi ký chiến tranh và thời hậu chiến". Chân dung về cuộc đời người lính - nhà giáo Đậu Công Nhân chỉ mươi dòng chấm phá mà lay động tâm can người đọc.

Số phận những cựu chiến binh trí thức thời hậu chiến đã vậy, gia cảnh những người lính không trở về cũng không khá hơn. Không đến nỗi đói rách, nhưng những thành viên trong gia đình có cha và ông nội đều là liệt sĩ mà tác giả đến thăm sau gần 40 năm cách biệt cũng là những trang văn gây lắng đọng. Câu hỏi đột ngột của người con gái đầu của liệt sĩ Nguyễn Đình Bách không chỉ khiến tác giả mà cả độc giả giật mình:

- Răng chú về mà không rủ ba cháu về với? Đến bữa ni mà chị em cháu vẫn không biết mặt ba.

Không bao giờ nữa, con gái ạ, dù sang thế kỷ sau nữa, vì ba cháu đã vĩnh viễn nằm lại dưới chân đồi Mồ Côi, chiến trường Trị Thiên - Huế.


Đồng Hới, tháng 12 năm 2017

Nhà văn Nguyễn Thế Tường

Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bình

- Lời giới thiệu 5

- Lời thưa trước: Qua bưng biền chiến tranh 15

- Lai lịch một bài thơ 27

- Chia lửa với Thành cổ Quảng Trị 37

- Chiến trường Trị Thiên những ngày tháng không quên 44

- Những ngày làm binh vận 54

- Xạ thủ B-41 64

- Ở bệnh viện dã chiến 74

- Người lính giữ kho 81

- Đánh xe tăng đường 12 87

- Tết ở chiến trường 102

- Yên Ngựa sau cuộc chiến 109

- Chuyện kể từ đồi mồ côi 122

- Xem văn công 129

- Chuyện bên lề nhiệm vụ 138

- Cuộc chiến trên cao điểm 303 149

- Trên chốt Mỏm Đỏ 158

- Về với Huế 165

- Thăm gia đình đồng đội - liệt sĩ 173

- Trở thành liệt sĩ sau chiến tranh 181

- Ký ức làng 189

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Yên ngựa sau cuộc chiến”