CÙNG BẠN ĐỌC
Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta đã kết thúc cách đây hơn một phần ba thế kỷ. Những mốc son chói lọi Điện Biên Phủ và Xuân 1975 đã tô đậm thêm những trang lịch sử huy hoàng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Vậy mà đến nay, ở đâu đó vẫn tồn tại những câu hỏi:
- Vì sao nhân dân Việt Nam phải hứng chịu hai cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 30 năm?
- Vì sao một nước nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu như Việt Nam lại có thể liên tiếp đánh thắng "hai đế quốc to" là Pháp và Mỹ?
- Đâu là những bài học đối với các cường quốc đã dính líu đến Việt Nam để rồi phải chấp nhận thất bại và cuốn cờ, lui quân? v.v…
Thực ra, từ giữa thế kỷ XX và dưới nhiều góc độ khác nhau, những câu hỏi tương tự đã từng được nhiều người đặt ra, từ những năm kháng chiến chống Pháp đến những năm kháng chiến chống Mỹ, thậm chí cả sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Mấy chục năm qua, một số công trình nghiên cứu của các tư-ớng lĩnh, học giả, sử gia Pháp, Mỹ và một số nước khác cho thấy những người cầm bút có thiện chí đều thừa nhận ý đồ (năm 1945) của tổng thống Pháp Charles De Gaulle là quyết tâm giành lại Đông Dương, "bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa thuộc địa Pháp"; thừa nhận sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam không liên quan gì đến quyền lợi và nền an ninh của nước Mỹ; thừa nhận vào những năm 1946 và 1965 chiến tranh không phải là giải pháp cuối cùng; thừa nhận tính chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng dân tộc, ý chí và tinh thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân Việt Nam, v.v...
Nhưng với những người chịu trách nhiệm trong việc đem quân sang Việt Nam, thừa nhận những điều tương tự không phải là chuyện dễ dàng. Phải 20 năm sau mới có bức thư "sám hối" của cựu tổng thống Pháp De Gaulle gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966. Cũng phải 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc (1975-1995) mới xuất hiện cuốn sách "Phản tỉnh" của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc. Namara. Bức thư và cuốn sách đã khẳng định một điều, đó là: vào những thời điểm nhạy cảm có ý nghĩa quyết định trong quan hệ với Việt Nam, những người cầm đầu chính quyền Paris và Washington đã "tính sai nhiều nước cờ". Đồng thời bức thư và cuốn sách cũng chỉ rõ: phải "vất vả" lắm người ta mới nhận ra những nước cờ tính sai đó. Mà một trong những sai lầm bao quát nhất là đưa quân sang xâm lược một nước mà không có những hiểu biết tối thiểu cần thiết về nền văn hóa của một dân tộc vốn có truyền thống chống ngoại xâm hàng ngàn năm. Vì sao vậy? Vì những người cầm đầu nước Pháp và nước Mỹ hồi đó chỉ biết tin vào sức mạnh của sắt thép.
Điều đáng tiếc hơn cả là, từ Charles De Gaulle đến Lyndon Johnson rồi Richard Nixon, không ai tỉnh táo trước những lời cảnh báo của Cụ Hồ. Có thể nêu lên một ví dụ: đó là lời cảnh báo của Cụ ngay giữa thủ đô Paris trung tuần tháng 9 năm 1946.
Trong các cuộc họp báo chung cũng như trong cuộc tiếp riêng nhà báo Mỹ David Schoenbrun (giám đốc đài phát thanh Hoa Kỳ) ngày 11 tháng 9 năm 1946, Cụ Hồ nhắc lại những điều đã từng được Cụ khẳng định: Tôi sang đây để hòa giải. Tôi không muốn trở về Hà Nội với hai bàn tay trắng. Tôi muốn có những kết quả cụ thể, những điều khẳng định tương lai hợp tác bình đẳng giữa hai dân tộc Việt-Pháp mà chúng tôi mong đợi. Nhưng nếu người ta buộc chúng tôi phải chiến đấu thì chúng tôi sẽ chiến đấu. Các bạn nói cuộc chiến đấu của chúng tôi là vô vọng? Không, nó không phải là không có hy vọng. Nó sẽ gian khổ, ác liệt, nhưng nhân dân Việt Nam nhất định thắng trong cuộc chiến tranh này… Các bạn ngạc nhiên và hỏi vì sao? Bởi vì chúng tôi có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất, đó là tinh thần dân tộc. Người ta không thể đánh giá thấp điều đó…
Với gần 40 sự kiện lịch sử hiện đại Việt Nam nối tiếp nhau được trình bày dưới dạng kể chuyện, người viết cuốn sách này cố gắng chứng minh tinh thần dân tộc Việt Nam đã thể hiện trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như thế nào?
Trước hết đó là tinh thần hòa hiếu, tha thiết được sống hòa bình để xây dựng cuộc sống mới, nhất là vào những thời điểm bước ngoặt lịch sử - sau Cách mạng tháng Tám, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau Hiệp định Paris, v.v…
Nhưng một khi khát vọng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước bị khước từ, khi kẻ thù buộc chúng ta phải cầm súng, thì - như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập…". Cũng với tinh thần và quyết tâm ấy, bước vào cuộc kháng chiến thứ nhất, Người khẳng định: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Cũng với tinh thần và quyết tâm ấy, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trên đà phát triển thắng lợi, Người động viên toàn dân, toàn quân: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi".
Rõ ràng là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và Quốc lệnh “Đánh cho Mỹ cút - đánh cho ngụy nhào” trong lịch sử hiện đại đã mang đậm dấu ấn tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc trong Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo của người xưa. Và chính vì biết kế thừa và phát huy tinh thần đó mà Bộ Thống soái tối cao Việt Nam đã dựa chắc vào dân để khơi dậy và phát huy truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật đánh giặc của toàn dân lên tầm cao thời đại, đã tạo nên mọi nhân tố cần thiết để thắng địch từng bước, cho đến khi đi đến đích cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Do hàng loạt sự kiện trọng đại của cả một quá trình 35 năm chuẩn bị và thực hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng (1940 - 1975) chỉ thu gọn trong phạm vi một cuốn sách và do trình độ có hạn, nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong được bạn đọc chỉ giáo. Xin chân thành cám ơn.
TÁC GIẢ





Reviews
There are no reviews yet.