Trăng và súng

… Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện vào nhau tạo ra hình ảnh ‘đầu súng mảnh trăng treo’, sau bớt đi một chữ ‘mảnh’. Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát. Nó nói lên cái gì lơ lửng, ở xa chứ không phải buộc chặt, suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp và có lúc treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn (Tuyển tập Chính Hữu – Nxb Văn học, 1998, tr.19)…

Tác giả: Ngô Vĩnh Bình

Kích thước: 13 x 19

49,000

Liên hệ ngay

THAY LỜI NÓI ĐẦU     

Trăng hay súng

      vẫn bóng hình người thơ




      Ấy là một câu trong bài thơ nhà thơ Huy Cận viết tặng nhà thơ Chính Hữu năm 1997. Nguyên văn bài thơ:


      Một đời "đầu súng trăng treo"

      Hồn thơ đeo đẳng bay theo chiến trường

      Tiếng lòng trong đọng hạt sương

      Cành hoa chiến địa mà gương tâm tình

      Cho hay thơ ở lòng mình

      Trăng hay súng vẫn bóng hình người thơ


      Bài thơ dựa vào ý một bài thơ, tên một tập thơ hay nhất làm nên tên tuổi Chính Hữu - tập Đầu súng trăng treo, trong đó có bài Đồng chí. Bài Đồng chí được sáng tác năm 1948 khi tác giả còn là một chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô. Bài thơ Đồng chí ngay từ khi mới xuất hiện đã được xem như một "hiện tượng" của thơ bộ đội, thơ kháng chiến và sau này được in đi in lại đến cả trăm lần, được quảng bá rộng rãi trong nhiều thế hệ bạn đọc, được in trong sách giáo khoa, dịch ra nhiều thứ tiếng, chọn làm đề thi học sinh giỏi văn, thi vào đại học và cho đến hôm nay nó vẫn được xem như là một trong những bài thơ hay nhất viết về tình đồng chí, đồng đội, viết về Bộ đội Cụ Hồ. Hình tượng quê hương người chiến sĩ với "vầng trăng", "đầu súng" trong bài thơ là hình ảnh rất cô đúc, thật bộ đội. Viết về trường hợp ra đời của bài thơ, nhà thơ Chính Hữu tâm sự: "Vấn đề với tôi đơn giản hơn nhiều. Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện vào nhau tạo ra hình ảnh "đầu súng mảnh trăng treo", sau bớt đi một chữ "mảnh". Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát. Nó nói lên cái gì lơ lửng, ở xa chứ không phải buộc chặt, suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp và có lúc treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn" (Tuyển tập Chính Hữu - Nxb Văn học, 1998, tr.19).

      Bài Đồng chí in năm 1948 thì năm sau nhạc sĩ Minh Quốc phổ nhạc thành bài Tình đồng chí (còn gọi là bài Tình quê hương) trước năm 1975 phổ biến rất rộng rãi, mới đầu ở Nam Trung Bộ và sau đó là toàn miền Nam.

      Hình ảnh "đầu súng trăng treo" có thể nói đã là tấm danh thiếp của nhà thơ Chính Hữu khi ông đến với bạn đọc, đến với văn chương đương đại và cùng 5 nhà văn - chiến sĩ tiêu biểu khác là Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Hữu Thỉnh vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay từ những đợt đầu. Hình ảnh "đầu súng trăng treo" sau mấy mươi năm đến hôm nay không chỉ là "thương hiệu", là "tài sản" của riêng Chính Hữu nữa mà nó đã trở thành "logo", thành biểu tượng của giới cầm bút mang áo lính. Có lẽ chính vì lý do này mà Ban Biên tập báo Quân đội nhân dân đã chấp nhận đề nghị của tôi - người lấy bút danh Kiến Văn, chọn tên của chuyên mục nói về chuyện văn - chuyện đời của các nhà văn - chiến sĩ có từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 1 năm 2012 trên trang Văn học thứ sáu báo Quân đội nhân dân hằng ngày là Đầu súng trăng treo?

      Cùng với bài thơ Đồng chí (có một thời gian tác giả đổi tên thành bài Đầu súng trăng treo) với những câu kết: Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo, Chính Hữu còn được biết tới bởi những câu thơ bất hủ viết về Hà Nội những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1947):


      Đêm Hà Nội buốt tê,

      Mái buồn nghe sấu rụng.

      (Bài Đêm Hà Nội)


      Hay trong bài Ngày về:


      Những chàng trai cha trắng nợ anh hùng

      Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

      Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

      Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa.


      Một điều nữa, nói đến Chính Hữu không thể không nhắc tới một ông "quan văn nghệ" - từng giữ trọng trách Phó trưởng ban Văn nghệ quân đội (nhà thơ Tố Hữu là Trưởng ban), Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), Phó Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (khoá III) có nhiều đóng góp cho công tác phát hiện bồi dưỡng những tài năng văn học, đặc biệt là những tài năng trẻ trong quân đội. Ông đồng thời là một dịch giả, một cây bút viết lý luận văn học có tầm cỡ và là đồng tác giả của nhiều ca khúc lãng mạn cách mạng đi cùng năm tháng như Ngày về (nhạc Lương Ngọc Trác), Tình quê hương (nhạc Minh Quốc), Ngọn đèn đứng gác (nhạc Hoàng Hiệp)...

      Chính Hữu viết ít và viết chậm, ông bảo ông học tập các nhà thơ phương Tây khi họ nói: Thơ phải kết hợp XẢO - kỹ thuật với PHÁC - mộc mạc; đồng thời ông cũng học Bô-dơ-le khi nhà thơ khuyên: mỗi người viết hãy là nhà phê bình của chính mình. Những suy nghĩ của ông về nghề in rải rác đây đó, nếu mai ngày được sưu tập lại người đọc vẫn còn được thấy rất nhiều vấn đề mà nhà thơ bàn đến không hề cũ chút nào.

      Và bài thơ Tự hoạ ông viết năm 1996 dưới đây, đọc lại, tin rằng chẳng ai có thể dửng dưng:


      Những đêm băn khoăn nên về hay ở

      Cái vui cái buồn nửa có nửa không

      Nhưng mối tình suốt đời bỏ dở,

      Những bài thơ, làm mãi chẳng xong.


      Nhà số 4 - phố nhà binh, mùa xuân năm 2012 - năm kỷ niệm sinh nhật lần thứ 55 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1/1957 - 1/2012)


      NGÔ VĨNH BÌNH

     

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Trăng và súng”