LỜI GIỚI THIỆU
Trăng quê là tập thơ thứ hai sau tập thơ Tình quê của Nguyễn Hàn Dụng. Không hiểu vì sao cả hai tập thơ của tác giả lấy chủ đề đều gắn với chữ: "Quê".
Quê hương hẳn là ai cũng có, đó là nơi cất tiếng chào đời, nơi có lời ru ngọt ngào của mẹ. Nơi có hạt gạo, củ khoai thấm đẫm mồ hôi, công sức của mẹ cha nuôi ta lớn lên. Nơi có lũy tre, cây đa, giếng nước, mái đình, cánh diều tuổi thơ, vầng trăng thơ mộng từng in dấu thời gian của nhiều người. Chính vì vậy mà hồn quê trong thơ Nguyễn Hàn Dụng luôn thao thức, trăn trở. Đặc biệt là hình ảnh của người mẹ đã để lại một dấu ấn sâu nặng đi hết đường đời tác giả.
Gió sương bạc phếch áo nâu
Liêu xiêu dáng mẹ trên đầu nắng mưa...
(Mẹ tôi)
Một người mẹ vật lộn ngày đêm với sương nắng, tần tảo vượt mọi gian khổ, sẵn sàng hy sinh đời mình vì hạnh phúc ấm no của con cái.
... À ơi! Chân trời góc biển
Cánh mềm cõng dáng hồn quê
Nuôi con quản gì gian khổ
Đôi chân bước vẹt lối về…
(Hoài niệm)
Hình ảnh người mẹ Việt Nam cõng dáng hồn quê lặn lội chân trời góc biển để nuôi con đúng là một biểu tượng nhân văn lớn lao. Thơ viết giàu cảm xúc, mộc mạc nhưng rất ấm áp khiến người đọc phải rung động về cuộc đời đôn hậu, bao dung của người mẹ.
Viết về đề tài quân đội, Nguyễn Hàn Dụng có cái nhìn khá là đặc biệt, khác hơn các tác giả khác đã viết. Anh biết chọn điểm nhấn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để viết. Thơ anh cũng lột tả được mức độ tàn khốc của chiến tranh như cuộc giải phóng và giữ thành Quảng Trị tám mươi mốt ngày đêm. Giặc đã dùng các loại phương tiện chiến tranh, dùng các loại bom, pháo hạng nặng, hơi độc, hơi ngạt ngày ngày ào ạt trút vào Thành Cổ, đất thành hầm thành hố, cây cỏ không còn chút rễ, gạch ngói không còn một viên vẹn nguyên. Ấy thế mà sau lần giặc phản kích, lửa khói chưa tan thì hình ảnh:
Những chiếc mũ tai bèo lại hiện lên
Chiến sĩ giải phóng quân ngồi ôm súng
Khuôn mặt trẻ măng còn vương bụi cát
Thản nhiên cười
Phô sắc hoa tươi
Giữa Thành Quảng Trị
Ôi!
Thật diệu kỳ
(Nụ cười trong Thành Cổ)
Bài thơ cho ta thấy trước sự hủy diệt của kẻ thù, gang có thể chảy, nước có thể sôi nhưng trong đó có những chiến sĩ quân giải phóng được đúc ra từ thép. Họ ngoan cường, anh dũng chiến đấu và không thể chết.
Nói về thơ tình của Nguyễn Hàn Dụng nó rất mộc mạc, tự nhiên. Nó êm dịu, ngọt ngào như trái chín. Nó ẩn chứa những tâm tư, khát vọng của tình yêu đôi lứa. Nó ẩn dụ những điều thầm kín, sâu xa.
… Ước gì lại thuở chăn trâu
Tôi xin làm lược chải đầu cho em...
Và:
… Ngồi cùng lớp học nên thân
Bài thơ tôi tặng em cầm... lại thôi.
(Hoài niệm)
Đúng là mượt mà, rung động. Thơ đã đưa ta về với tình yêu một thuở mộc mạc, ngây thơ. Đến một ngày nhìn lại ta thấy nuối tiếc một thoáng đã qua mà không sao với được. Chỉ biết rằng nó rất đẹp.
… Như ngày đầu em đến
Nẻo thu vàng sắc hoa...
(Thu)
Tác giả cũng có lúc mơ màng và thầm ước:
… Phách nào em chửa có đôi
Phách nào bay đến chỗ tôi... sững sờ
Phách nào chung một đường tơ
Cho tôi gửi nhịp phách chờ... cùng em.
(Xem diễn chèo)
Không có tham vọng đi sâu, nói về thơ tình của Nguyễn Hàn Dụng nhưng quả thật khi đọc những áng thơ của anhm ta mới thấy nó nhẹ nhàng, nó khích lệ, nó bùng cháy lên sự đam mê rạo rực và nó đồng cảm với tư duy của nhiều độc giả:
… Em ơi em mùa xuân đang hát
Khúc giao duyên xe mối tình đầu
Mưa trắng trời sao lòng vẫn khát
Những thanh âm hò hẹn nhớ thương nhau...
(Tình ca mùa xuân)
Ai mà chẳng vậy, mỗi mùa xuân đến ta đều cảm thấy như mình trẻ lại, đều cảm nhận thấy khao khát một tình yêu rộ nở, sinh sôi.
Trăng quê bao giờ cũng là niềm hưng phấn thi ca của nhiều cây bút tài hoa từ ngàn đời xưa đến nay, nhưng trăng trong thơ Nguyễn Hàn Dụng thường được gắn với quê hương, sự kiện, con người.
Trên đường vội vàng ra mặt trận, đoàn xe phải dừng phanh giữa dốc để đợi phà sang sông. Khi nghe thấy tiếng cười của những cô gái trực chiến phòng không bảo vệ bến phà trong đêm, mặc dù chưa nhìn rõ mặt nhau nhưng trăng đã khiến anh có cảm xúc:
… Tiếng cười say cả trời cao
Trăng non rơi xuống đậu vào vai em...
(Trăng Triều Dương)
Trăng xưa nay được ví như người con gái đẹp hiền thục, nết na và gắn với nhiều huyền thoại mà ở đây không thể nói hết được. Thơ Nguyễn Hàn Dụng đưa vầng trăng đồng hành với người con gái nông thôn để trang điểm cho nhau, tôn tạo cho nhau vươn lên tầm cao của cái đẹp chân - thiện - mỹ.
… Bởi ngày oi nắng chói chang
Nên em đợi ánh trăng vàng làm duyên...
và
... Hằng Nga tỏ nét thục hiền
Em nghiêng dáng cấy như tiên xuống đồng...
(Cấy lúa đêm trăng)
Đối với những người làm thơ, Trăng là cảnh đẹp, là huyền thoại, là gợi cảm để sáng tác nên có nhiều người thường dùng rượu, dùng trà để ngồi thưởng nguyệt. Có lẽ tâm tư của tác giả cũng vậy:
… Muốn say suốt cả canh thâu
Để nghe trăng ngỏ một câu… thương mình.
(Tình trăng)
Thơ của Nguyễn Hàn Dụng có góc nhìn rất riêng, anh viết nhiều thể loại, ở thể loại nào cũng mượt mà, súc tích, giàu ngôn ngữ, ẩn dụ sâu xa nhưng không gò ép khiến người đọc cảm thấy hấp dẫn và yêu thích.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
PHẠM DỤNG




Reviews
There are no reviews yet.