Trại Đa-vít 823 ngày đêm – tập 1

Cuốn sách: ‘Trại Đa-vít 823 ngày đêm’ là tập hồi ký của một số cán bộ, chiến sĩ từng tham gia các đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và Ban Liên hợp quân sự hai bên thi hành Hiệp định Pa-ri trong thời gian từ cuối tháng 1 năm 1973 đến ngày giải phóng Sài Gòn 30 tháng 4 năm 1975.

Tác giả: Câu lạc bộ truyền thống Ban liên hợp quân sự - Trại Đa-vít

Kích thước: 14,5 x 20,5

0

Liên hệ ngay

LỜI TỰA


      Cuốn sách: "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" là tập hồi ký của một số cán bộ, chiến sĩ từng tham gia các đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và Ban Liên hợp quân sự hai bên thi hành Hiệp định Pa-ri trong thời gian từ cuối tháng 1 năm 1973 đến ngày giải phóng Sài Gòn 30 tháng 4 năm 1975.

      Chúng ta đã biết, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt của quân và dân cả hai miền nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã buộc Mỹ và kéo theo là chính quyền Sài Gòn lệ thuộc Mỹ phải đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam mà nội dung chủ yếu là:

      - Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam;

      - Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh chống Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân đội nước ngoài theo Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam trong 60 ngày; tháo dỡ hết căn cứ quân sự Mỹ và căn cứ quân sự nước ngoài theo Mỹ;

      - Hoa Kỳ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam;

      - Trao trả cho nhau các nhân viên quân sự (tù binh) và nhân viên dân sự (tù chính trị) bị bắt;

      - Tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam;

      - Hai bên miền Nam Việt Nam hiệp thương thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ;

      - Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình.

      Như vậy là quân Mỹ và quân nước ngoài theo Mỹ phải rút hết trong lúc các lực lượng vũ trang Việt Nam tại miền Nam vẫn được giữ nguyên. Hiệp định thừa nhận trên thực tế tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.

      Hiệp định Pa-ri quy định thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên trong 60 ngày, sau đó là Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam để bảo đảm phối hợp hành động thực hiện các điều khoản quân sự và việc trao trả người bị bắt cùng vấn đề mồ mả và người mất tích.


      *

      *.......*


      Trong 60 ngày của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, do Mỹ có yêu cầu bảo đảm rút quân an toàn và nhận lại người bị bắt mà phần lớn là phi công ưu tú của quân đội Mỹ, nên ngay từ đầu phía chính quyền Sài Gòn sớm có những hoạt động vi phạm nhưng một ít điều khoản quan trọng của Hiệp định Pa-ri đã được thực hiện: Mỹ rút hết quân và rút khỏi các căn cứ quân sự đúng thời hạn (đây cũng chính là điều quan tâm bậc nhất của ta), Mỹ nhận lại hết người bị bắt, đổi lại ta cũng nhận lại hơn 26 nghìn cán bộ chiến sĩ bị phía Sài Gòn giam giữ.

      Bước qua Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam, ta đấu tranh thực hiện được mấy đợt trao trả nhân viên dân sự trong năm 1973 và đầu năm 1974, qua đó ta nhận lại được hơn 5.000 người, một con số rất nhỏ so với hàng vạn cán bộ và cơ sở cách mạng của ta còn bị giam cầm trong các ngục tù của họ. Ngoài ra, Ban Liên hợp quân sự hai bên không còn thỏa thuận giải quyết được vấn đề gì tích cực nữa, bởi vì chính quyền Sài Gòn vốn đã chống lại cuộc đàm phán Pa-ri, nay lại được Mỹ dung túng hoặc làm ngơ nên ra sức phá hoại Hiệp định, tăng cường đàn áp kìm kẹp trong vùng họ kiểm soát, đẩy mạnh hành quân lấn chiếm các vùng kiểm soát của ta hòng "đánh bật cộng sản", tiến tới giải quyết vấn đề bằng quân sự.

      Các lực lượng của ta buộc phải kiên quyết đánh trả để bảo vệ thành quả cách mạng, và do lập trường ngoan cố không thay đổi của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tình trạng chiến tranh đã từng bước trở lại khắp chiến trường miền Nam, ta đã buộc phải dùng bạo lực cách mạng để hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, điều đã được xác định rõ trong Hiệp định Pa-ri mà không thể thực hiện được bằng phương pháp hòa bình theo Hiệp định.

      Do sự chuyển biến tình hình trên đây, các đoàn đại biểu quân sự của ta trong Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên (được thành lập sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương giải thể) đã chuyển dần từ đấu tranh thi hành Hiệp định sang đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường. Dựa vào thế pháp lý của Hiệp định Pa-ri hai đoàn ta tiếp tục trụ lại đến cùng tại "Trại Đa-vít" thuộc trung tâm đầu não của đối phương, giương cao ngọn cờ chính nghĩa cách mạng tố cáo với Ủy ban Quốc tế và dư luận thế giới (thông qua đại diện báo chí quốc tế đông đảo ở Sài Gòn) các hành động phá hoại Hiệp định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự thông cảm và chấp nhận của dư luận thế giới trước việc ta buộc phải đánh trả để bảo vệ Hiệp định Pa-ri, để đạt mục tiêu mà Chính phủ Hoa Kỳ đã long trọng cam kết tôn trọng ngay trong Điều 1 Hiệp định là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

      Thành viên các đoàn đại biểu quân sự của ta trong các ban liên hợp quân sự bốn bên và hai bên (của cả Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) gồm cán bộ, chiến sĩ được chọn từ nhiều đơn vị, nhiều chiến trường, tập hợp vào "Trại Đa-vít" tại Tân Sơn Nhất sâu trong vùng kiểm soát của đối phương để cùng làm một nhiệm vụ mới mẻ và lạ lẫm: đấu tranh ngoại giao pháp lý quân sự, rồi lại đấu tranh trên trận địa dư luận. Với tinh thần tổ chức kỷ luật của người chiến sĩ cách mạng, các đồng chí làm nhiệm vụ đặc biệt này đã cố gắng quán triệt tư tưởng chỉ đạo của cấp trên, vừa làm vừa học, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, và đã hoàn thành được hai nhiệm vụ cơ bản được giao:

      - Đấu tranh đòi thực hiện với mức cao nhất có thể mấy điều khoản trọng yếu nhất của Hiệp định Pa-ri, đặc biệt là việc tống khứ hết đội quân xâm lược khỏi miền Nam nước ta đúng thời hạn, thực hiện trọn vẹn yêu cầu của Bác Hồ "đánh cho Mỹ cút".

      - Phối hợp và hỗ trợ cho tiếng súng ngày càng mạnh của ta trên chiến trường, tranh thủ sự hiểu biết và chấp nhận của dư luận thế giới đối với con đường chúng ta đi từ Hiệp định Pa-ri đến trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng miền Nam "đánh cho ngụy nhào", tiến tới thống nhất Tổ quốc.

      Năm 1997, các đồng chí trong Câu lạc bộ truyền thống "Trại Đa-vít" tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành cuốn sách "BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ VÀ TRẠI ĐA-VÍT, NHỮNG THÁNG NGÀY...". Cuốn này có tính chất là một cuốn sử nên chủ yếu chỉ nêu diễn biến sự việc đúng như và theo trình tự nó đã xảy ra, không diễn tả được hết sự đa dạng và phong phú trên nhiều mặt hoạt động và đấu tranh của cán bộ và chiến sĩ ta trong những tháng ngày sống và chiến đấu không phải bằng súng đạn trong vòng vây của kẻ thù.

      Tập hồi ký "TRẠI ĐA-VÍT" - 823 NGÀY ĐÊM lần này là một sự bổ sung cần thiết và rất có ích. Cùng làm chung nhiệm vụ, nhưng mỗi người một loại công việc, trên một lĩnh vực khác nhau, hàng ngày phải vượt qua bao khó khăn trắc trở do phải sống và hoạt động trong vùng kiểm soát của đối phương với tư cách đại diện chính thức công khai của chính quyền và quân đội cách mạng. Hai năm ba tháng không phải là một thời gian dài, nhưng cũng không phải ngắn. Trong hoàn cảnh khá đặc biệt mỗi người đều giữ lại từ đoạn đời chiến đấu đó của mình nhiều ký ức khó phai.

      Những chuyện được kể lại ở đây có thể chỉ mới là một phần của những gì các đồng chí ta đã sống hoặc chứng kiến, dù sao cũng hy vọng tập hồi ký khiêm tốn này sẽ góp phần giúp những ai muốn tìm hiểu sẽ được hiểu thêm một khía cạnh khá độc đáo trong lãnh đạo và thực hiện phương pháp cách mạng của Đảng ta trong thời kỳ sôi động từ Hiệp định Pa-ri đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.


      Thiếu tướng HOÀNG ANH TUẤN                                                           

      Nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương


  

      MỤC LỤC


      * Lời giới thiệu-Nguyễn Thị Bình-5

      * Lời tựa-Hoàng Anh Tuấn-7

      * "Hiệp định Pa-ri là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời…"-Phạm Văn Đồng-13

      "Hiệp định Pa-ri là một thất bại lớn đối với Mỹ"-Lê Đức Thọ-15

      * Đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị - quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch-Trích "Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp-21

      * "Thế đứng công khai hiên ngang giữa lòng địch"…-Trích "Đại thắng mùa Xuân" của đại tướng Văn Tiến Dũng-23

      * Một số vấn đề về Hiệp định Pa-ri-Xuân Thủy-26

      * Hiệp định Pa-ri: 30 năm nhìn lại-Nguyễn Thị Bình-36

      * Tôi đi vào "trại Đa-vít"-Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn-51

      * Ăn tết trong "trại Đa-vít"-Thượng tướng Trần Văn Trà-69

      * Hồi ức của nhà quân sự-Đoàn Huyên-73

      * Trận địa ngoại giao trong lòng địch-Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự-115

      * Những ánh mắt trìu mến của nhân dân thành phố Sài Gòn với Phái đoàn quân sự của Cách mạng -Võ Đông Giang-133

      * Quân dân Khu 6 đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri-Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên-140

      * Thực hiện Hiệp định Pa-ri - chặng đường gian truân-Nguyễn Ngọc Dung-155

      * Một cuộc đấu tranh ở nhà lao Tam Hiệp-Nguyễn Văn Khả-171

      * Chuyến đi kiểm soát Hoa Kỳ và chư hầu rút quân-Phú Thành-184

      * Một đợt trao trả trên sân bay Lộc Ninh-Phạm Hồng-187

      * Tết - ghi được ở Sài Gòn-Trần Duy Hinh-191

      * Những cuộc đấu trí khi đi trao trả tù binh-Hoàng Duy Hòa-200

      * Quân Mỹ "gô-hôm"-Nguyễn Ngân-206

      * Đi giám sát trao trả tù binh ngụy ở Đức Cơ bị pháo phòng không ta bắn-Nguyễn Quang Biểu-212

      * Hai ngày ba cảnh-Phạm Hồng-218

      * Những ánh mắt Sài Gòn-Nguyễn Danh-227

      * Những nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ được trao trả đợt cuối cùng-Nguyễn Hùng Đào-231

      * Những câu chuyện còn nhớ mãi-Vũ Nam Bình-241

      * Trao trả nhân viên dân sự-Vũ Bình và Duy Hòa-255

      * Giương cao ngọn cờ chính nghĩa đấu tranh trên mặt trận dư luận hỗ trợ chiến trường-Trích "Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít..."-263

      * Hiệp định Pa-ri và sự tan rã ý chí của quân đội ngụy Sài Gòn -Tư Tiên-286

      * Một phiên họp đặc biệt. Hai bài phát biểu: Hai bản cáo trạng-Nguyễn Hùng Đào-288

      * Ai là thủ phạm vụ thảm sát "Cai Lậy"-Đại tá Hà Cân-296

      * Vụ điều tra chính quyền Sài Gòn vi phạm ngừng bắn tại khu vực Phật Đá - Sáu Ầu-Nguyễn Quang Biểu-305

      * Trại Đa-vít "ốc đảo cách mạng"-Nguyễn Hồng Việt-313

      * Trại Đa-vít một địa danh không thể nào quên-Đại tá Tạ Hưng-318

      * Trại Đa-vít - Xứng đáng là một di tích lịch sử-Huỳnh Văn Trình-329

      * Nghe tiếng đàn bầu trong "trại Đa-vít"-Đinh Quốc Kỳ-337

      * Hai đoàn trong bốn bên-Ngô Thế Kỷ-347

      * Ta vào trận mới-Linh Giang-348

      * Hoa nở trong trại "Đa-vít"-Hoàng Khánh-351

      * Về thăm "trại Đa-vít"-Quốc Kỳ-353

      * Những ngày cuối cùng tại trại Đa-vít-Trích "Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít..."-355

      * Một kỷ niệm không thể nào quên-Hoàng Duy Hòa-369

      * Lá cờ cách mạng đầu tiên ở Sài Gòn treo trong trại Đa-vít-Vũ Bão-373

      * Kỷ niệm sâu sắc sáng 30-4-1975 ở trại Đa-vít-Trần Văn Khánh-378

      * Ủy ban Quốc tế-Trích "Ban Liên hợp quân sự và trại

      Đa-vít..."-384

      * Chúng tôi sống và chiến đấu giữa hang ổ kẻ thù-Hà Thanh Minh-400

      * Cuộc gặp mặt sau 30 năm của các nhà ngoại giao mặc áo lính-Nguyễn Như Kim-417

      * Phụ lục: Bản Hiệp định Pa-ri và các nghị định thư--421


      TRẠI ĐA-VÍT "ỐC ĐẢO CÁCH MẠNG"


      NGUYỄN HỒNG VIỆT

      Ghi theo lời kể của Đại tá Đào Chí Công


      Trại Đa-vít, báo chí ngày đó gọi là "ốc đảo cách mạng". Nơi đây đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lý căng thẳng và quyết liệt cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đất nước thống nhất.

      Suốt từ năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, các phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đã diễn ra nhiều cuộc họp báo, là một bộ phận của mặt trận đấu tranh dư luận góp phần buộc Mỹ - ngụy phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri. Có lẽ sôi nổi nhất là những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phái đoàn của ta theo dõi tin chiến thắng của quân giải phóng qua rađio để tiếp tục đấu tranh với kẻ thù trên thế thắng của chiến trường. Tin chiến thắng trên chiến trường là niềm cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ ở trại kiên quyết tấn công kẻ thù. Càng những ngày cuối tháng 4 không khí ở trại

      Đa-vít càng sôi động. Trái tim mọi người rạo rực, tuy không ai bộc lộ qua cử chỉ, nét mặt, giữ không khí sinh hoạt bình thường, không để cho địch nghi ngờ, đồng thời bí mật đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

      Thời gian này, ngụy quân đặt thêm các trạm gác để quan sát mọi hoạt động bên trong trại. Để che mắt kẻ thù, mọi người vui mừng trước chiến thắng chỉ thông qua ánh mắt, nhiều lúc muốn reo lên nhưng lại im lặng.

      Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy quân sự Miền rất quan tâm và lo lắng đến việc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cán bộ, chiến sĩ ta trong trại Đa-vít. Cùng với chiến thắng của quân giải phóng trên chiến trường, từ ngày 18 tháng 4 cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít chuẩn bị các phương án chiến đấu. Suốt đêm ngày, lợi dụng máy bay địch ở sân bay Tân Sơn Nhất khởi động, cất cánh, anh em tranh thủ cắt sàn nhà để chui xuống đào hầm (nhà ở trong trại Đa-vít được dựng tạm, sàn gỗ và lợp tôn hoặc fibrô xi măng). Xẻng cuốc không đủ anh em phải dùng lưỡi lê, dao găm, cọc màn bằng sắt đập dẹt làm xà beng. Nhiều chỗ đất cứng phải đổ nước cho mềm, dễ đào. Thế là chỉ trong thời gian ngắn trong trại Đa-vít đã hình thành hệ thống hầm hào, công sự liên hoàn, có hầm chỉ huy, hầm quân y.

      Ngày thứ bảy hàng tuần trong tháng 4 các cuộc họp báo của đoàn ta vẫn diễn ra đều đặn, cuộc họp báo vào sáng thứ bảy ngày 26 tháng 4 năm 1975 có rất đông các nhà báo quốc tế. Hơn 100 nhà báo tới dự. Không còn đủ chỗ họ phải đứng ra ngoài cửa chăm chú theo dõi cuộc họp báo do Đại tá Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn của ta chủ trì xem có điểm gì mới về chiến sự trên chiến trường. Nhiều nhà báo thăm dò xem quân giải phóng có tiến công vào Sài Gòn không. Có một nhà báo quốc tế không giấu được ý định đã hỏi Đại tá Võ Đông Giang:

      - Thưa đại tá, các ông có tiến công vào Sài Gòn - Gia Định không?

      Đại tá Võ Đông Giang trả lời:

      - Rất tiếc là Bộ chỉ huy của chúng tôi không có thói quen nói trước ý định của mình!

      Câu trả lời hóm hỉnh, chứa đựng nhiều ý nghĩa khiến các nhà báo không hỏi thêm điều gì. Và cũng chính họ cũng hiểu rõ điều gì sắp xảy ra. Trong giờ giải lao, các nhà báo tranh thủ xin chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ chiến sĩ ta. Vì biết đâu, đây là buổi họp cuối cùng của đoàn ta tại trại Đa-vít. Và quả đúng như vậy.

      Đêm 28 tháng 4, mọi người trong đoàn được lệnh xuống hầm, sẵn sàng ở vị trí chiến đấu… Gần sáng pháo binh của ta bắn vào các mục tiêu quân sự của địch, càng lúc pháo càng cấp tập. Nằm dưới hầm mọi người nghe rõ tiếng đạn pháo rít trên đầu.

      Trưa ngày 29 tháng 4 có một đoàn khách đến trại giới thiệu là phái viên của phó tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Huyền đến xin gặp trưởng đoàn ta. 14 giờ 30 phút lại có một đoàn khách, 17 giờ 30 phút đoàn khách thứ 3 gồm ba người khẩn khoản xin được gặp trưởng đoàn ta. Ba vị khách đó là luật sư Trần Ngọc Liễn, ông Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín. Ba vị khách được mời xuống hầm để bảo đảm an toàn, đều trố mắt ngạc nhiên trước hệ thống công sự, hầm hào mới được đào. Sau khi lấy lại bình tĩnh, ba vị khách cho biết họ được ông Dương Văn Minh mới lên nhận chức tổng thống chính quyền Sài Gòn cử đến gặp Đại tá Võ Đông Giang đề nghị trình với thượng cấp thương lượng để tránh thương vong và đổ nát cho Sài Gòn khi quân giải phóng tiến vào. Đại tá Võ Đông Giang giải thích rõ chính sách của ta cho ba vị và yêu cầu nói với ông Dương Văn Minh phải đầu hàng. Bây giờ không còn gì để bàn, mọi vấn đề đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975.

      Các vị khách đã hiểu rõ lập trường của ta nên xin phép trở về Sài Gòn nhưng lúc này pháo ta đã bắn vào các mục tiêu quân sự càng cấp tập nên ba vị phải ở lại một đêm trong trại Đa-vít.

      Rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi nghe rõ tiếng gầm rú của xe tăng Quân Giải phóng vượt qua sân bay Tân Sơn Nhất tiến vào trung tâm Sài Gòn. Rồi tiếp đó là bộ đội giải phóng rầm rập tiến quân qua đường trước cổng trại Đa-vít. Lúc này tất cả cán bộ, chiến sĩ đều nhảy lên reo hò sung sướng. Chúng tôi ôm nhau trong niềm hân hoan, đôi mắt nhòa lệ. Bên ngoài trại Đa-vít không còn một bóng tên lính ngụy. Mặt đường la liệt quần áo, giày dép, mũ sắt, súng đạn… 9 giờ 30 phút đồng chí Hoàng Anh Tuấn và đồng chí Võ Đông Giang tiễn ba vị khách đã qua đêm trong trại Đa-vít về Sài Gòn thì gặp một đơn vị Quân Giải phóng áo nhuốm đỏ bụi đường, nét mặt rạng rỡ. Được chứng kiến tận mắt đội quân hùng dũng tiến vào thành phố, linh mục Chân Tín xúc động, dang rộng hai tay nói to: "Đây, giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta".

      Cả đêm 30 tháng 4 năm 1975 hòa trong không khí đại thắng của quân dân ta, cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít thức thâu đêm cho tới lúc này mọi người thỏa sức reo hò.

      Với chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đoàn ta tại trại Đa-vít chấm dứt nhiệm vụ.

      Hơn ba mươi năm trôi qua, kỷ niệm những năm tháng ở trại Đa-vít không bao giờ phai mờ trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ. Không trực tiếp cầm súng nhưng bằng trí thông minh linh hoạt nhạy bén, hai đoàn của trại Đa-vít đã góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc.

      Trại Đa-vít hôm nay chỉ còn dấu vết không thể nhận ra. Mong "ốc đảo cách mạng" được tôn tạo thành di tích lịch sử.

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Trại Đa-vít 823 ngày đêm – tập 1”