THAY LỜI NÓI ĐẦU
(Nội dung này, chúng tôi tham khảo mục từ Võ Nguyên Giáp trong Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 1103-1106)
Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, mất ngày 4 tháng 10 năm 2013; quê xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Năm 1925 - 1926, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào học sinh yêu nước ở Trường Quốc học Huế, tiếp thu tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1927, Võ Nguyên Giáp gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng và đến năm 1929, cùng một số đồng chí cải tổ Tân Việt thành Đông Dương cộng sản liên đoàn, một trong ba tổ chức đảng hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 10 năm 1930, Võ Nguyên Giáp bị bắt trong khi tham gia phong trào cứu tế đỏ Nghệ An, bị thực dân Pháp kết án hai năm tù giam. Từ năm 1936 đến năm 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia Mặt trận dân chủ, hoạt động báo chí trên mặt trận công khai của Đảng. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Võ Nguyên Giáp được giao phụ trách Ủy ban quân sự của Tổng bộ Việt Minh, tham gia chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, xây dựng căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, Võ Nguyên Giáp phụ trách Ban xung phong Nam tiến, tuyên truyền giác ngộ đồng bào các dân tộc để tổ chức thành con đường quần chúng từ Cao Bằng về Thái Nguyên.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh giao Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Võ Nguyên Giáp được ủy nhiệm lãnh đạo chung. Ngay sau ngày thành lập, Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy trận đánh đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần (25 và 26.12.1944), mở đầu truyền thống "đánh thắng trận đầu", "đánh tiêu diệt gọn" của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 4 năm 1945, Võ Nguyên Giáp được bầu vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ, được cử giữ chức Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất với tên gọi Việt Nam Giải phóng quân; tham gia Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc. Tháng 8 năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, sau đó được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Tại Quốc dân Đại hội (16 - 17.8.1945) họp tại Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Võ Nguyên Giáp đã
có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, Võ Nguyên Giáp được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ; về Đảng, là Bí thư Đảng đoàn Chính phủ và được Đảng phân công đặc trách về quân sự. Từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 2 tháng 3 năm 1946, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Phó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (Thứ trưởng) trong Chính phủ liên hiệp lâm thời. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I. Từ ngày 2 tháng 3 năm 1946, giữ chức Chủ tịch Kháng chiến ủy viên Hội (sau đổi thành Ủy ban kháng chiến) trong Chính phủ liên hiệp. Tháng 4 đến tháng 5 năm 1946, là Phó Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị trù bị Đà Lạt (19.4 - 10.5.1946), có nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc đàm phán Việt - Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (6.7 - 13.9.1946). Từ ngày 3 tháng 11 năm 1946 đến tháng 8 năm 1947, được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Ngày 30 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền cho Võ Nguyên Giáp làm Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, sau là Tổng Tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy. Ngày 20 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ cao cấp của quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng. Từ tháng 7 năm 1948, được tái bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 2 năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy các chiến dịch lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh những quyết sách đúng đắn và sáng tạo như: Tổ chức lại bộ đội theo hình thức "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung"; thành lập đại đoàn chủ lực đầu tiên; đánh Đông Khê mà không đánh Cao Bằng trong Chiến dịch Biên Giới; mở chiến dịch đánh quân chủ lực cơ động của Pháp hành quân ra Hoà Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực ta luồn vào đánh sau lưng địch để phát triển chiến tranh du kích nhằm kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt địch; mở Chiến dịch Tây Bắc, nơi địch sơ hở và địa hình có lợi để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; đặc biệt là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ. Sự chỉ đạo, chỉ huy của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Đại tướng
Võ Nguyên Giáp liên tục giữ chức vụ Tổng Tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Dưới sự lãnh đạo của tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau này là Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ rất sớm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ chuẩn bị dự thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (1 - 21.1.1959). Trong quá trình đánh Mỹ, Đại tướng đã cùng Quân ủy Trung ương chỉ đạo xây dựng những kế hoạch chiến lược và phương án tác chiến để kiến nghị với Trung ương và Bộ Chính trị, tổ chức chỉ đạo, chỉ huy thực hiện các kế hoạch ấy, đánh bại các chiến lược của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người sớm có kiến nghị và có nhiều công lao trong việc khẩn trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy hiện đại, xây dựng các quân chủng: Phòng không - Không quân, Hải quân, xây dựng Binh chủng Đặc công, xây dựng đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ và đường Hồ Chí Minh trên biển chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam; kịp thời xây dựng các quân đoàn chủ lực để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, thực hiện những trận đánh tiêu diệt lớn.
Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với sự chỉ đạo của Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo nghiên cứu, đề xuất kiến nghị với Bộ Chính trị và cùng với cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy toàn quân thực hiện thắng lợi quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.
Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị bổ sung vào Kế hoạch chiến lược kế hoạch giải phóng quần đảo Trường Sa và được Bộ Chính trị phê chuẩn. Từ ngày 2 đến ngày 28 tháng 4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Hải quân, Quân khu 5 tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược giải phóng quần đảo Trường Sa.
Sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Từ năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Bộ Chính trị và Chính phủ phân công vừa phụ trách quốc phòng đến năm 1980, vừa chỉ đạo công tác khoa học kỹ thuật - khoa học xã hội và sau đó cả công tác giáo dục đào tạo đến năm 1991. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu kinh nghiệm của thế giới, vừa tập hợp được trí tuệ của các nhà khoa học trong nước nên có nhiều ý kiến chỉ đạo đúng, sát thực tiễn, góp phần đề ra những quan điểm cơ bản tạo nên tiến bộ nhất định đối với sự phát triển của nền khoa học và nền giáo dục.
Là người cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và có thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sớm thấy được giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, sớm đề xuất và trực tiếp triển khai nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đề nghị với Bộ Chính trị cần xác định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng (20.8.1992), hai Huân chương Hồ Chí Minh (là người đầu tiên được tặng năm 1950; 1979), Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng (trao ngày 27.10.2010) và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế. Võ Nguyên Giáp được suy tôn là người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, là Tư lệnh của các Tư lệnh, Chính ủy của các Chính ủy, là Đại tướng của nhân dân. Thế giới đánh giá với tài thao lược về chiến lược, chiến dịch, hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong 21 danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ, trở thành một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương mẫu mực, một nhân cách lớn bởi tầm cao trí tuệ, đạo đức nhân văn, tấm lòng yêu nước thương dân, luôn "dĩ công vi thượng", hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sống nhân hậu, dân chủ, bình đẳng, yêu thương cán bộ, chiến sĩ, gần gũi tôn trọng nhân dân; là một trong những nhà lãnh đạo cách mạng tiêu biểu, một nhà quân sự lỗi lạc, một vị Tổng Tư lệnh "văn võ song toàn", "đức tài trọn vẹn", một nhà chiến lược mưu trí sáng tạo, một nhà lý luận quân sự hàng đầu, một nhà tổ chức kiệt xuất, một vị tướng có uy tín lớn trong nước và trên thế giới; là nhà báo, nhà giáo, nhà ngoại giao, nhà sử học, nhà văn hoá lớn của dân tộc.
Là một nhà lãnh đạo rất coi trọng việc nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhất là về lĩnh vực quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biên soạn xuất bản hơn 40 tác phẩm, góp phần phổ biến quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục lịch sử, truyền thống và kinh nghiệm, đồng thời, cũng cho biết những phát triển mới, những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp. Nhiều tác phẩm đã được dịch ra tiếng nước ngoài.
Bộ "Tổng tập Hồi ký" giới thiệu một số tác phẩm của Đại tướng
Võ Nguyên Giáp gồm: "Từ nhân dân mà ra" (1964), Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" (1964), "Những năm tháng không thể nào quên" (1970), "Chiến đấu trong vòng vây" (1995), "Đường tới Điện Biên Phủ" (2004), "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" (2000).
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN




Reviews
There are no reviews yet.