Nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các chính phủ và công chúng, bởi vai trò to lớn, cũng như đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội... Điều này thể hiện ở số lượng doanh nghiệp, đóng góp vào GDP, tạo việc làm cho xã hội, dẫn dắt phát triển nền kinh tế, điều tiết cân bằng thị trường. Cụ thể: ở châu Âu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 99% tổng số doanh nghiệp ; con số này ở Australia là 98%, sản xuất chiếm 1/3 GDP và tạo ra 4,7 triệu việc làm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 90% tổng số nhà xuất khẩu hàng hóa và hơn 60% nhà xuất khẩu dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ và vừa; ở Anh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 99,3% tổng số doanh nghiệp, đạt doanh thu hằng năm vào khoảng 1,6 nghìn tỷ bảng, chiếm 47% doanh thu của khu vực tư nhân. Do có vai trò to lớn, cũng như tính hiệu quả, Chính phủ Anh đã dự tính chuyển 25% chi tiêu của Chính phủ, trực tiếp hoặc trong chuỗi cung ứng cho khu vực doanh nghiệp này ... Do những đóng góp to lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên các quốc gia luôn tìm cách xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ tối đa cho sự phát triển khu vực doanh nghiệp này, trong đó hỗ trợ tiếp cận vốn là một trong những chính sách quan trọng.
Ở Việt Nam, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đã xác định doanh nghiệp là đội quân chủ lực, dẫn dắt đất nước đạt mục tiêu giàu mạnh, thịnh vượng và sánh ngang các nước trong khu vực và thế giới. Thực tế chứng minh, doanh nghiệp là khu vực có đóng góp lớn nhất vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, bình quân trong giai đoạn 2010-2017 , khu vực này đóng góp cho ngân sách nhà nước tăng 12,4%/năm, tương đương trên 60% trong GDP của toàn bộ nền kinh tế. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 98,1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, 31% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo công ăn việc làm cho khoảng hơn 5 triệu lao động. Bình quân năm giai đoạn 2012-2017, số doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của doanh nghiệp lớn là 5,4%.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Ban Kinh tế Trung ương và USAID (2017) , qua ba thập kỷ đổi mới (1986 - nay), phần lớn các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn chỉ có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (có tới 42% doanh nghiệp có doanh thu hằng năm dưới 1 tỷ và 85% doanh nghiệp hoạt động chính thức có doanh thu dưới 2 tỷ), trong đó, hiệu suất của khu vực kinh tế này còn thấp và có sự suy giảm trong một thập kỷ qua. Hiệu suất sinh lời trên vốn kinh doanh (ROI) của các doanh nghiệp tư nhân rất thấp, chỉ bằng 1/5 của doanh nghiệp FDI và gần 1/2 của doanh nghiệp nhà nước. Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của doanh nghiệp tư nhân bình quân chỉ đạt 4% so với 16,3% của doanh nghiệp FDI và 11% của doanh nghiệp nhà nước (2014). Về liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam chỉ có khoảng 21%, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 30%, Malaysia là 46%. Ước tính Việt Nam chỉ có chưa đến 0,1% doanh nghiệp khoa học công nghệ trong tổng số doanh nghiệp. Chi phí đầu tư cho đổi mới khoa học công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chỉ chưa đầy 0,3% doanh thu, trong khi tại Ấn Độ tỷ lệ này là 5%, Hàn Quốc là 10%, Nhật Bản là 50%...
Do vai trò to lớn của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, Việt Nam đã và đang nỗ lực tháo gỡ những rào cản nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Các khía cạnh được Chính phủ quan tâm, như: phát triển hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại; phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; có chính sách hỗ trợ nhằm đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp quốc gia; tạo thuận lợi để các hộ và cá nhân tự nguyện liên kết hình thành doanh nghiệp hoặc các hình thức tổ chức hợp tác khác. Hỗ trợ và khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, hỗ trợ đổi mới, sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; xoá bỏ mọi định kiến, rào cản; cải cách mạnh các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo nguồn vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin thị trường và xúc tiến thương mại, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, đào tạo nghề cho lao động cũng đang được Chính phủ quan tâm hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Theo Báo cáo điều tra năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), giai đoạn 2013-2015, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải vay vốn ngân hàng với chi phí cao hơn, với mức cao hơn các doanh nghiệp lớn khoảng 1-2%/năm; tỷ lệ chi phí không chính thức chiếm 64% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 56% doanh nghiệp nhỏ và 49% doanh nghiệp vừa, trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp lớn chỉ là 30%. Chi phí không chính thức này có thể chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của các doanh nghiệp (doanh nghiệp tham gia khảo sát)...
Nhìn chung, các nghiên cứu về tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đều có chung nhận định, tiếp cận vốn là nhân tố mấu chốt cho sự phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự khó khăn trong tiếp cận vốn vay đã trở thành một trong những rào cản quan trọng trong phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Khả năng tiếp cận vốn khó khăn buộc các doanh nghiệp mất thêm các chi phí, cả chính thức và phi chính thức để có thể có được khoản vay, hoặc/và phải tiếp cận thị trường phi chính thức và phải trả lãi suất cao hơn, như: sự phiền hà về thủ tục; luôn yêu cầu phải có tài sản thế chấp và tình trạng tham nhũng trong quan hệ tín dụng. So sánh với Malaysia, Philippines và Thái Lan, thì các doanh nghiệp Việt Nam phải trả lãi suất cao hơn nhiều đối với các khoản vay ngoại tệ dài hạn... thực tế này làm gia tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, cản trở sự phát triển.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, với mong muốn làm rõ bản chất vấn đề nghiên cứu, từ đó đề xuất một số giải pháp chính sách nhằm tháo gỡ vấn đề tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, nhóm tác giả trân trọng giới thiệu cuốn sách “Tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” để bạn đọc tham khảo.
Nội dung cuốn sách nằm trong Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Học viện Chính sách và Phát triển. Trong quá trình hoàn thiện, nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Nguyên, Tiến sĩ Bùi Thúy Vân, Thạc sĩ Ngô Xuân Khoa, Tiến sĩ Trần Thế Nữ, Tiến sĩ Trần Thế Tuân đã có đóng góp ý kiến phản biện.
Do vấn đề nghiên cứu rộng lớn, có sự thay đổi liên tục cùng nhịp thở của kinh tế thị trường, trong khi kiến thức còn hạn chế, nên cuốn sách không tránh khỏi sai sót. Tác giả mong bạn đọc góp ý phản biện. Mọi ý kiến góp ý xin gửi về địa chỉ: Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển, Tòa nhà Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngõ 7, Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: pthedong@gmail.com.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 9 năm 2019
TS. Phùng Thế Đông





Reviews
There are no reviews yet.