NGƯỜI EM CỦA THI CA
Khi trò chuyện với người già, lớp trẻ sợ nhất là các vị hay ôn nghèo, kể khổ. Nhưng quả thật, nghèo khổ là một phần đời đã từng có thật đối với lứa tuổi U70- U80 hiện nay. Tránh nó, quên nó đều không được. Nói có vẻ nghịch lý, về nhiều phương diện, đó là một tài sản đặc biệt của thế hệ chúng tôi, và tận lòng sâu mỗi người lại biết ơn những năm tháng nghèo khổ, gian lao đó: Nó giúp chúng tôi hiểu sâu sắc cái HẠNH PHÚC của ngày hôm nay, nếm được hương vị của HẠNH PHÚC, cả trong những gì nhỏ nhất: Một ngày đẹp trời, một bữa cơm no, một khoảnh khắc bình yên, không lo bom đạn, một đêm không phải mấy lần ôm con xuống hầm vì báo động máy bay, vì không lo đại bác có thể giội tới bất cứ lúc nào. Trong những thời khắc yên tĩnh ngắn ngủi, từ đâu đó, hiện ra như một an ủi, vỗ về, động viên, chia sẻ, nâng đỡ tinh thần, nâng bước chân vững vàng hơn: khi đâu đó vọng lên một làn điệu dân ca, một câu hò một giọng hát, một câu thơ… Chiến tranh đã kết thúc, mà trong không gian văn hóa tinh thần rất đa dạng cả nước hôm nay, các tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời trong những năm kháng chiến gian khổ vẫn hiên ngang chiếm một diện tích không dễ thay thế.
Vị trí vừa gần gũi, vừa thiêng liêng của văn học nghệ thuật một thuở đó đã hấp dẫn tôi từ những ngày ấu thơ. Sinh ra ở một làng quê heo hút miền Trung thuộc Vĩnh Linh, phía bắc Vĩ tuyến 17, sau này thành giới tuyến quân sự tạm thời chia đôi đất nước. Thuở đó, làng đồi cây cối rậm rạp như một khu rừng nguyên sinh. Ông cố tôi, người khai khẩn lập làng là một vị cai trong đội hộ vệ của vua Hàm Nghi khi người xuất cung, ra Hà Tĩnh lập căn cứ chống thực dân Pháp. Khi Đại thần Tôn Thất Thuyết xuất bôn, vua Hàm Nghi bị bắt hồi cung năm 1888, ông không thể trở về làng cũ, nên tới đất này khai khẩn. Đó là lý do, dù ở một vùng quê cách biệt, đến lượt con rồi các cháu của ông đều được đi học và sớm tham gia các tổ chức yêu nước, chống thực dân Pháp. Từ tổ chức quốc tế Cứu tế đỏ, rồi Tân Việt cách mạng Đảng, đến tháng 4 năm 1930, ông nội, rồi ba và các chú tôi cùng một số đồng chí trong vùng đã lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của huyện Vĩnh Linh - Quảng Trị, sau khi nhận được tài liệu về việc thành lập của Đảng Cộng sản Đông Dương. Lúc đó, ba tôi là con trai cả vừa tròn 20 tuổi. Có lẽ quê tôi thuộc một vùng khuất nẻo, nên nó thành nơi đi về, hội họp của nhiều đồng chí sau này trở thành cán bộ cao cấp của Đảng. Nhưng đó cũng là lý do mà ba tôi và các chú nhiều lần bị bắt bớ, tra tấn, tù đày.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là ngày Hội của toàn dân, nhưng cũng là của một gia đình. Trong nhà có bốn con trai, ba con gái đều tham gia các đoàn thể cách mạng. Nhưng ngày vui ngắn ngủi. Năm 1947, sau Toàn quốc kháng chiến, mặt trận Huế bị vỡ. Thực dân Pháp tràn qua Quảng Trị ra tận Đồng Hới, Quảng Bình. Ba tôi và các chú phải lên chiến khu hoặc chỉ huy chiến đấu, mẹ tôi đưa bốn anh em đi tản cư về vùng biển Vĩnh Thái. Ốm không có thuốc, mẹ tôi mất mùa hè năm 1947, khi mang thai, lúc đó tôi lên sáu, cô em út mới lên hai. Giặc bao vây làng. Đêm đến, mẹ tôi được chôn trong vườn nhà mà không có cả một cỗ ván. Năm đó bà mới 37 tuổi. Bầy con dại do bà nội cưu mang. Nhưng do vùng quê bị thực dân Pháp chiếm đóng, anh cả được cậu ruột mang theo vào Huế. Là một nhà giáo bị cách ly với gia đình cách mạng, sợ con trai thất học, ba tôi xin với bà nội cho tôi và cậu em con chú ra vùng tự do khu Bốn ở Hà Tĩnh để đi học. Năm 1949, sau cả tháng đi đường biển rồi đường bộ, vượt cả Đèo Ngang, mới ra được Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Để con em cán bộ Quảng Trị có nơi học, Tỉnh ủy đã tổ chức Trại Thiếu sinh. Là người của Ban Kinh tài tỉnh ủy, ba tôi đã góp phần xây dựng trại ngay từ đầu. Trong sáu năm tồn tại (1949-1955), trại đã nuôi dưỡng và tổ chức cho mấy trăm con em Bình Trị Thiên được học hành tử tế. Đến mười tuổi tôi mới vào lớp một bây giờ. Chỉ hai năm sau, năm 1951, ba tôi hy sinh khi vào công tác ở Thừa Thiên. Mới mấy năm kháng chiến, bà nội tôi đã có ba con trai hy sinh. Với những cống hiến đó gần 70 năm sau, bà được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Dông dài kể lể để nói rằng xuất phát điểm về văn hóa của chúng tôi là một vùng trống trơn thảm hại. May sao trên con đường phiêu bạt học qua nhiều nơi, chắp vá, triền miên trong đói rách và cô đơn, tâm hồn thơ trẻ như một vùng đất khô khát, chỉ biết tìm niềm an ủi trong những cuốn sách bất chợt gặp, mượn được ở đâu đó. Cách tốt nhất để đối phó với những trường hợp mượn vội, là đọc nhớ, rồi sẽ hiểu sau. Mấy cuốn truyện nôm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Lục Vân Tiên… thuộc lòng cả hay một phần không khó. Hàng ngàn câu văn hay, danh ngôn cũng tìm cách ghi vào sổ tay rồi nhập tâm khi nào không hay. Cách học đó không khó, để suốt mấy năm phổ thông, tôi luôn là một học sinh giỏi môn văn.
Khi thi đại học, tôi đã chọn Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm đó thi khá khó, nhưng tôi đã thi đậu. Tốt nghiệp năm thứ tư khóa đầu tiên, tôi được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, khóa luận tốt nghiệp lại là về ngôn ngữ với đề tài: Tiếng địa phương Vĩnh Linh. Về công tác ở Tổ Ngôn ngữ Viện Văn học non nửa năm, tôi được gọi nhập ngũ. Mọi dự định sự nghiệp văn chương kết thúc, khi trở thành anh binh nhì một đơn vị pháo binh.
Năm 1968, khi đi chiến trường Trị Thiên - B4 và mấy năm chiến đấu ở đó, tôi là Trung đội trưởng Trinh sát Pháo binh. Bài viết đầu tiên trên đường ra mặt trận là Điếu văn truy điệu mấy chiến sĩ trong đại đội bị B.52 ở đường tránh Cua chữ A, gần đèo Phulanhích. Mấy năm chiến đấu, tôi lên làm Chính trị viên phó Đại đội, rồi Trợ lý Câu lạc bộ Trung đoàn. Từ chiến trường được cử ra Bắc học lớp đào tạo giáo viên của Học viện Chính trị. Ngỡ là cứ thế mà đi, thì bất ngờ năm 1971, đang học dở, tôi được điều về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trở lại với nghề văn, khi hầu hết những kiến thức sách vở đã rơi rụng. Bao nhiêu năm ở chiến trường, trải bao thực tế khốc liệt, mà không viết nổi một bài văn, mấy câu thơ, tôi biết mình hoàn toàn không có năng khiếu sáng tác. Nhiều lần, nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải động viên có gì cứ viết bừa đi, cốt là thực tế, rồi sẽ sửa sau. Nhưng tôi đã không bao giờ dám thử. Rõ ràng, có một vốn kiến thức văn chương khá vững vàng, sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, lại trải qua thực tế sống và chiến đấu ở một chiến trường nổi tiếng ác liệt, thế mà thiếu một cái gì đó để có thể đưa tất cả vốn sống đó vào tác phẩm văn chương!
Nghĩ lại, mới thấy, nhược điểm lớn nhất của tôi, là đọc nhiều, nhớ nhiều quá. Bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào cũng tìm thấy những câu thơ, những trang văn đã viết rất hay về tâm trạng này, về nhân vật nọ. Trí tưởng tượng của tôi nghèo nàn, đi ra mặt trận, mà ngay cả những lúc ác liệt, ngặt nghèo nhất cũng chỉ thấy như mình đã gặp những tình huống này trong nhiều trang sách kim cổ. Những tác phẩm văn học hay như lặn nguyên hình trong tôi, mà không hề thẩm thấu qua tim óc để thành vốn liếng của riêng mình. Với văn học mà tôi rất say mê, tôi chỉ là một người đọc, một người biết thưởng thức mà không thể tham gia sáng tác hay sáng tạo. Những năm sống gần các nhà văn quân đội, ở vào thời kỳ họ sáng tạo sung sức nhất, từ Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyên Ngọc, Xuân Thiều, Thu Bồn…, đọc sổ tay ghi chép và làm Toàn tập cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, mỗi người, theo cách của mình, đã để lại được những sáng tác ghi dấu một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Không phải ai viết cũng có văn, nghĩa là có một giọng điệu riêng. Sức cám dỗ, mê hoặc người đọc không phải tác phẩm nào cũng giữ được. Không gian mà họ phản ánh được giới hạn, hay tự giới hạn trong những đường biên nhất định. Thế giới nhân vật thường khá quen thuộc, do hạn chế của nhiệm vụ mà văn học phải phục vụ. Nhưng một số nhà văn xuất sắc đã có những tác phẩm được bạn đọc đương thời yêu mến. Niềm tự hào lớn nhất, là trong thắng lợi để có một đất nước thống nhất, độc lập, “Binh chủng Văn nghệ” đã góp phần xuất sắc.
Không thể làm nhà văn sáng tác, tôi chỉ là một người đọc cẩn thận, biết trân trọng những đóng góp của từng nhà văn qua mấy cuộc kháng chiến, đặc biệt, những nhà văn đã sớm hy sinh. 15 năm làm ở phần Bình luận Văn nghệ - một chuyên mục của Tạp chí - tôi cùng bạn viết cùng lứa đã sưu tầm, giới thiệu một cách tương đối tư liệu về các nhà văn mặc áo lính qua mấy cuộc kháng chiến, sau này đã tập hợp trong mấy tập sách: Từ cuộc đời chiến sĩ (1978), năm 2001 và 2003 tái bản có bổ sung với tên Văn học về người lính, Đời người - Đời văn (2000), Văn học với đời sống, Đời sống văn học (2000), Thao thức với phần đời chiến trận (2009). Dĩ vãng phía trước (2012), Thư chiến trường (2014). Là sản phẩm tinh thần của một thời kỳ lịch sử nhất định, mọi đánh giá về nhà văn và tác phẩm, không nên tách rời những điều kiện hạn chế mà thời nào, nước nào cũng có. Giá trị quý nhất không phải thời nào cũng có được chính là tác động tới tinh thần và tình cảm của công chúng rộng rãi của những tác phẩm kịp thời. Có lẽ vì thế chăng, mà nhà thơ Hoàng Cầm từng ghi vào sổ tay tôi:
Người em của thi ca/ Dẫu thế nào chẳng tiếc/ Nếu cần chi viện những oan khiên.
Tập sách này là tập hợp một phần những bài viết cùng chủ đề mấy năm qua, ghi dấu bước vào tuổi 80.
Ngô Thảo 11-2019



Reviews
There are no reviews yet.