Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia trong 2 năm (1970 - 1971), đế quốc Mỹ cố giữ cục diện chiến trường Đông Dương khỏi xấu hơn và tiếp tục thực hiện mục tiêu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần lực lượng còn lại ở miền Nam Việt Nam để tạo lợi thế trên bàn đàm phán ở Pari, nhằm xoa dịu phong trào đấu tranh trong nước Mỹ.
Về phía ta, sau những thắng lợi trên chiến trường trong năm 1971, ta chủ trương tiếp tục tiến công, giữ vững và phát triển thế và lực đã có, đồng thời tích cực chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên hướng miền Đông Nam Bộ, Trị - Thiên, Tây Nguyên, trong đó Trị - Thiên được xác định là hướng tiến công chủ yếu, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng phối hợp quan trọng, nhằm tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng. Những thắng lợi quan trọng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã tạo chuyển biến cơ bản, thay đổi hẳn cục diện trên chiến trường miền Nam có lợi cho ta. Trên miền Bắc, quân và dân ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đặc biệt là thắng lợi của Chiến dịch Phòng không Hà Nội - Hải Phòng đánh bại cuộc tập kích đường không chủ yếu bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng (18 - 29.12.1972). Thắng lợi về mặt quân sự cùng với thắng lợi trên mặt trận ngoại giao buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari (27.1.1973) chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, trên toàn chiến trường miền Nam, địch ngang nhiên vi phạm Hiệp định, chúng thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, huy động lực lượng mở các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm vùng giải phóng. Sau khi quân Mỹ rút đi, quân đội Sài Gòn buộc phải điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược, co về phòng thủ. Về ta, trong năm 1973, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta cơ bản đã ngăn chặn được phần lớn các hoạt động lấn chiếm và bình định của địch, liên tục tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng. Bước sang năm 1974, ta tiếp tục giành thắng lợi trong đánh địch lấn chiếm, đồng thời xây dựng các binh đoàn chủ lực, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng, chủ động mở các chiến dịch tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Thắng lợi trận Thượng Đức trong Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức ở Khu 5 (17.7 - 25.8.1974) đã khẳng định: Quân chủ lực cơ động của ta đã mạnh hơn quân chủ lực cơ động của quân
đội Sài Gòn. Chiến thắng của “đòn trinh sát chiến lược” Đường 14 - Phước Long (13.12.1974 - 6.1.1975) mang một ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước suy yếu của quân đội Sài Gòn, chúng không còn khả năng phản công giành lại khu vực chiến lược quan trọng trong tuyến phòng thủ vòng ngoài phía Bắc Sài Gòn, góp phần làm thay đổi thế bố trí trên chiến trường Đông Nam Bộ giữa ta và địch; đồng thời cho ta thấy rõ hơn ý đồ và khả năng phản ứng rất hạn chế của Mỹ vào miền Nam. Chiến thắng đó là một nhân tố mới, tạo thêm cơ sở để Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngay trong năm 1975.
Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, đào tạo, huấn luyện của các cơ quan, học viện, nhà trường và các đơn vị toàn quân, Viện Lịch sử quân sự tiếp tục triển khai nghiên cứu, biên soạn cuốn sách: Một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập 3: 1972 - 1974. Nội dung từng chiến dịch được bổ sung, hoàn thiện, làm rõ tình hình, công tác chuẩn bị, diễn biến và kết quả chiến dịch; phân tích và làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân thành công và chưa thành công; tập trung nghiên cứu, luận giải, làm rõ một số vấn đề về nghệ thuật quân sự.
Viện Lịch sử quân sự chân thành cảm ơn các đồng chí tướng lĩnh, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội đã tham gia đóng góp ý kiến hoàn thiện cuốn sách; Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cùng cộng tác xuất bản cuốn sách.
Trong quá trình biên soạn, do nhiều nguyên nhân nên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, Viện Lịch sử quân sự rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí.
Chân thành cảm ơn!
Viện Lịch sử quân sự




Reviews
There are no reviews yet.