Lịch sử tổ chức quân sự Việt Nam, tập 5 (1975 – 2000)

Sau ngày miền Nam giải phóng, giai đoạn 1975 – 2000, dân tộc Việt Nam đã kinh qua không ít biến động thăng trầm, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nỗ lực cao độ xây dựng lực lượng vũ trang, nhằm có một tổ chức quân sự phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế đối với hai nước Lào và Campuchia

Tác giả: Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dan Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự

Kích thước: 14,5 x 20,5

0

Liên hệ ngay

Sau ngày miền Nam giải phóng, giai đoạn 1975 - 2000, dân tộc Việt Nam đã kinh qua không ít biến động thăng trầm, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nỗ lực cao độ xây dựng lực lượng vũ trang, nhằm có một tổ chức quân sự phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế đối với hai nước Lào và Campuchia.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã không ngừng được chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, phát triển mọi mặt. Tổ chức quân sự Việt Nam ngày càng hoàn chỉnh và không ngừng phát huy vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ổn định, hồi sinh, phát triển đất nước.

Qua mỗi giai đoạn lịch sử, do yêu cầu thực tiễn đất nước và nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang đã được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp.

Khi đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất, chuyển từ thời chiến sang thời bình (5.1975 - 4.1977), yêu cầu đặt ra với tổ chức quân sự Việt Nam là phải điều chỉnh cho phù hợp theo hướng giảm lực lượng thường trực, chuyển một lực lượng lớn quân đội sang phát triển kinh tế để cùng với toàn Đảng, toàn dân hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội rút gọn, trong đó khối quân khu rút gọn hơn, bố trí theo hướng chiến lược; thành lập bộ chỉ huy quân sự các tỉnh. Khối bộ binh với 4 quân đoàn chủ lực cơ động được củng cố thống nhất với 3 sư đoàn bộ binh cùng các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng và đơn vị bảo đảm. Khối binh chủng: Pháo binh, Công binh, Tăng Thiết giáp, Đặc công, Hóa học, Thông tin liên lạc cũng được củng cố, kiện toàn mọi mặt. Khối quân chủng: Phòng không - Không quân, Hải quân. Khối các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật.., tiếp tục củng cố hoàn chỉnh hơn; hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân được chú trọng kiện toàn kịp thời với hàng nghìn cấp ủy các cấp và hàng chục cục, hàng trăm phòng, ban chính trị; hệ thống đơn vị làm nhiệm vụ phát triển kinh tế trong Quân đội được hình thành từ Bộ Quốc phòng xuống các quân khu, quân chủng; hệ thống nhà trường Quân đội cũng được chấn chỉnh, đổi tên, thành lập mới đúng chức năng, nhiệm vụ, sát với thực tiễn yêu cầu đào tạo và sử dụng nhân lực trong tình hình mới.

Trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế thì trên tuyến biên giới Tây Nam và sau đó là phía Bắc Tổ quốc, kẻ thù gây hấn, từng bước mở rộng quy mô, cường độ xâm lược lãnh thổ, buộc Đảng và Nhà nước ta phải gấp rút điều chỉnh cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang theo hướng tăng cường lực lượng trên tuyến biên giới Tây Nam, đồng thời sẵn sàng giáng trả các đòn xâm lấn của đối phương dọc tuyến biên giới phía Bắc. Đảng, Nhà nước ta chủ trương mở rộng quy mô cả số lượng, tổ chức và trang bị kỹ thuật lực lượng vũ trang. Lực lượng phát triển kinh tế của Quân đội lập tức được điều động trở lại làm nhiệm vụ chiến đấu. Cơ cấu lực lượng vũ trang ta gấp rút được điều chỉnh với việc tập trung số sư đoàn chiến đấu ở phía Bắc lên gấp 3 lần, riêng Quân khu 1 tăng gấp 4 lần. Để làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia và Lào, Việt Nam tổ chức Binh đoàn 678 giúp Lào, Bộ Tư lệnh 719 giúp Campuchia. Bên cạnh việc gấp rút chỉ đạo điều chỉnh lực lượng, thế trận, vật chất mọi mặt, tổ chức đánh địch giành thắng lợi trong hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới hai đầu đất nước; Đảng và Nhà nước ta đồng thời chỉ đạo các cơ quan, đơn vị toàn quân điều chỉnh mới về tổ chức, lực lượng cho phù hợp với tình hình chiến đấu và phục vụ chiến đấu của Quân đội.

Những năm 1979 - 1985, sau ngày cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới hai đầu đất nước kết thúc thắng lợi, nhưng chiến tranh quy mô lớn còn tiềm ẩn nguy cơ khó lường, xung đột vũ trang diễn biến phức tạp, đặc biệt trên vùng biên giới phía Bắc; sự nghiệp giúp cách mạng hai nước Campuchia và Lào khá nặng nề nên Đảng, Nhà nước ta tiếp tục chỉ đạo mở rộng lực lượng vũ trang, điều chỉnh thế trận, duy trì khối binh lực lớn quân tình nguyện, chuyên gia quân sự tại hai nước Campuchia và Lào. Quân đội nhân dân Việt Nam với lực lượng thường trực và lực lượng dự bị hùng hậu. Công tác hậu cần, kỹ thuật được bảo đảm tối đa với hệ thống kho tàng các cấp. Các quân khu và Đặc khu Quảng Ninh; các quân đoàn, quân chủng, binh chủng được gấp rút củng cố, thành lập nhiều cơ quan, đơn vị, điều chỉnh lực lượng, được bổ sung các loại vũ khí, trang bị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có lệnh. Khối cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các tổng cục đều điều chỉnh theo hướng tinh, gọn, giảm thiểu các đầu mối trung gian. Khối đơn vị chiến đấu được ưu tiên phát triển. Khối học viện, nhà trường Quân đội, bên cạnh số cũ được thành lập, nâng cấp mở rộng thêm nhiều trường trực thuộc Bộ Quốc phòng và các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng.

Mặc dù nguy cơ chiến tranh lớn bị đẩy lùi, nhưng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch vẫn tiếp diễn, đất nước gặp nhiều khó khăn nên Đảng và Nhà nước ta chủ trương điều chỉnh cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang theo hướng ưu tiên tăng hoặc giảm hợp lý các đơn vị làm nhiệm vụ chiến đấu trên tuyến biên giới phía Bắc, vùng biển, đảo, chiến trường hai nước Campuchia và Lào; chuyển từng bước một bộ phận Quân đội sang phát triển kinh tế, tự bảo đảm một phần đời sống, giảm bớt khó khăn cho đất nước. Các quân khu, quân chủng, binh chủng và Đặc khu Quảng Ninh; các quân đoàn 14, 29, 26, 1, 2, 3, 4; lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và Lào từng bước giảm đầu mối, chuyển một bộ phận lớn sang làm nhiệm vụ phát triển kinh tế. Cuối năm 1985 đầu năm 1986, tỷ lệ và cơ cấu lực lượng vũ trang được điều chỉnh, bố trí cân đối, hợp lý hơn trên tất cả các hướng. Bộ đội địa phương, đặc biệt là trên các tỉnh, huyện biên giới, hải đảo được củng cố đủ sức đánh địch lấn chiếm, gìn giữ tuyến biên giới. Lực lượng Bộ đội Biên phòng sau khi chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng được chăm lo củng cố về tổ chức, tăng cường trang bị. Lực lượng xây dựng kinh tế cũng được điều chỉnh hợp lý.

Song song với chỉ đạo kiện toàn, điều chỉnh cơ cấu lực lượng vũ trang, Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo kiện toàn cơ chế, chính sách, chế độ, hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội.

Bước sang thời kỳ đổi mới (1986 - 1990), do yêu cầu phát triển đất nước, tổ chức quân sự Việt Nam tiếp tục được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo điều chỉnh cho phù hợp hơn nữa, tiếp tục giảm lực lượng thường trực, thu gọn các đầu mối sát với chức năng, nhiệm vụ; tăng cường tổ chức và bố trí lực lượng Quân đội tham gia phát triển kinh tế; củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; điều chỉnh thế

bố trí chiến lược có trọng tâm, trọng điểm. Trong 4 năm (1987 - 1990), cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang Việt Nam được điều chỉnh mạnh mẽ, giảm hàng chục vạn quân; giải thể 3 quân đoàn và 5 mặt trận, Binh đoàn 678, 30 sư đoàn bộ binh và binh chủng; hàng loạt lữ đoàn, trung đoàn binh chủng. Lực lượng bộ đội địa phương cũng được điều chỉnh... Lực lượng dân quân, tự vệ được chấn chỉnh theo hướng giảm số lượng, nâng cao chất lượng, rút gọn quy mô tổ chức. Khối các đơn vị quân đội tham gia phát triển kinh tế cũng được điều chỉnh về tổ chức với 16 tổng công ty và công ty trực thuộc các tổng cục, quân khu và quân, binh chủng; 32 xí nghiệp công nghiệp sản xuất quốc phòng và hàng dân dụng thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Kinh tế; 5 liên hiệp các xí nghiệp thuộc Tổng cục Hậu cần.

Giai đoạn đất nước ta bước vào thực hiện công nghiệp hóa (1991 - 1995), trên cơ sở đẩy mạnh chấn chỉnh, kiện toàn mọi mặt theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang Việt Nam tiếp tục được điều chỉnh ngày càng cân đối và đồng bộ hơn so với các giai đoạn trước. Đến cuối năm 1995, cơ cấu tổ chức các quân khu, quân chủng, binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn duy trì như năm 1990. Toàn quân giảm 21,4% tổng quân số so với năm 1990.

Từ năm 1996 đến năm 2000, giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tổ chức quân sự Việt Nam được điều chỉnh theo phương hướng kiện toàn tổ chức các quân khu, binh chủng, bộ đội địa phương, cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, các viện nghiên cứu, hệ thống nhà trường, cơ quan quân sự địa phương phù hợp với thời kỳ mới; từng bước kiện toàn các đoàn kinh tế - quốc phòng; điều chỉnh lực lượng bộ binh; bố trí lại lực lượng ở các khu vực trọng tâm, trọng điểm trên cả nước. Bộ đội chủ lực được điều chỉnh còn vài chục sư đoàn gồm một số sư đoàn đủ quân, sư đoàn có lực lượng phản ứng nhanh còn lại là số sư đoàn khung thường trực, một số trung đoàn độc lập ở một số quân khu và Vùng 4 Hải quân. Quân chủng Phòng không thu gọn một số sư đoàn, gồm các trung đoàn tên lửa, cao xạ, ra đa, tiểu đoàn A-72; ở các quân khu, quân đoàn tổ chức lữ đoàn phòng không. Quân chủng Không quân tổ chức gọn, thích hợp với từng chủng loại trang bị và chiến trường tác chiến...

Như vậy, nội dung cuốn “Lịch sử tổ chức quân sự Việt Nam, tập 5 (1975 - 2000) trình bày những nỗ lực chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức quân sự Việt Nam của Đảng, Nhà nước ta giai đoạn 1975 - 2000, là một tập trong bộ: Lịch sử tổ chức quân sự Việt Nam, gồm 5 tập. Trong quá trình tổ chức nghiên cứu, biên soạn, do thời gian có hạn, nội hàm cuốn sách lại rộng, vừa khó và rất phong phú, nên mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng, song chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế. Viện Lịch sử quân sự rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để lần xuất bản sau được hoàn chỉnh hơn.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ

Lời nói đầu 5

Chương 20: CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC QUÂN SỰ NHỮNG NĂM ĐẤT NƯỚC CHUYỂN TỪ THỜI CHIẾN SANG THỜI BÌNH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC (5.1975 - 3.1979) 13

1. Chấn chỉnh tổ chức, lực lượng, tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh những năm đầu đất nước thống nhất (5.1975 - 3.1977) 13

2. Tăng cường xây dựng tổ chức quân sự đáp ứng yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu trên tuyến biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, tham gia khôi phục, phát triển kinh tế (4.1977 - 3.1979) 49

Chương 21: MỞ RỘNG, KIỆN TOÀN TỔ CHỨC QUÂN SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ (1979 - 1986) 97

1. Nhanh chóng mở rộng lực lượng đáp ứng yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế (4.1979 - 1983) 97

2. Từng bước kiện toàn, chấn chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng giảm lực lượng thường trực, tăng cường lực lượng dự bị và làm kinh tế (1984 - 1986) 192

Chương 22: XÂY DỰNG TỔ CHỨC QUÂN SỰ NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI (1986 - 1990) 242

1. Tiếp tục chấn chỉnh tổ chức tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu tăng cường sức mạnh quốc phòng theo hướng công nghiệp hóa (1986 - 1988) 242

2. Kiện toàn, điều chỉnh lớn về tổ chức, lực lượng theo hướng gọn, mạnh, giảm lực lượng thường trực và dự bị (1989 - 1990) 291

Chương 23: ĐIỀU CHỈNH TỔ CHỨC QUÂN SỰ THEO THẾ BỐ TRÍ CHIẾN LƯỢC VÀ TƯ DUY MỚI VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG (1991 - 1995) 335

1. Điều chỉnh tổ chức gọn, mạnh theo thế bố trí lực lượng, trên từng khu vực phòng thủ và địa bàn cả nước, tham gia phát triển kinh tế theo hướng tập trung (1991 - 1993) 335

2. Củng cố, kiện toàn tổ chức quân sự, bảo đảm cân đối giữa các lực lượng (1994 - 1995) 393

Chương 24: CỦNG CỐ TỔ CHỨC QUÂN SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG THỜI BÌNH VÀ SẴN SÀNG MỞ RỘNG KHI CÓ CHIẾN TRANH (1996 - 2000) 419

1. Tiếp tục điều chỉnh thế bố trí chiến lược quân sự, quốc phòng theo hướng tinh, gọn, giảm trung gian, sát chức năng nhiệm vụ (1996 - 1998) 419

2. Đẩy mạnh kiện toàn tổ chức quân sự theo phương châm đủ, gọn, mạnh, hợp lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời bình và sẵn sàng mở rộng khi có chiến tranh (1999 - 2000) 471

Kết luận 510

Tài liệu tham khảo 568

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Lịch sử tổ chức quân sự Việt Nam, tập 5 (1975 – 2000)”