Lịch sử Quân sự Tây Nguyên – Tập 2: 1954-1975

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mỗi khu vực, địa bàn trên chiến trường miền Nam đều có ý nghĩa chiến lược nhất định. Tây Nguyên, một vùng cao nguyên rộng lớn, với những cánh rừng đại ngàn, ở độ cao được ví như “mái nhà” của Nam Đông Dương, có giá trị chiến lược về quân sự. Từ Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang có thể cơ động vào Nam, ra Bắc hay tiến về đồng bằng, duyên hải đều dễ dàng. Chính vì thế, Tây Nguyên còn được ví là “lưng tựa” của Khu 5, “cửa ngõ” đi vào Sài Gòn, Nam Bộ; là hành lang nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, với vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.

Tác giả: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự

Kích thước: 14,5 x 20,5

0

Liên hệ ngay

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mỗi khu vực, địa bàn trên chiến trường miền Nam đều có ý nghĩa chiến lược nhất định. Tây Nguyên, một vùng cao nguyên rộng lớn, với những cánh rừng đại ngàn, ở độ cao được ví như “mái nhà” của Nam Đông Dương, có giá trị chiến lược về quân sự. Từ Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang có thể cơ động vào Nam, ra Bắc hay tiến về đồng bằng, duyên hải đều dễ dàng. Chính vì thế, Tây Nguyên còn được ví là “lưng tựa” của Khu 5, “cửa ngõ” đi vào Sài Gòn, Nam Bộ; là hành lang nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, với vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.


Từ những đặc điểm về địa lý và mối liên hệ với các chiến trường, Tây Nguyên trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Đối với đế quốc Mỹ, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng muốn biến Tây Nguyên thành tuyến phòng thủ bảo vệ khu vực Nam Trường Sơn và duyên hải miền Trung; là bàn đạp thực hiện các kế hoạch quân sự trên chiến trường Đông Dương. Để thực hiện mưu đồ đó, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tổ chức các “lực lượng đặc biệt”, các đơn vị biệt kích và nhiều trung đoàn, sư đoàn, lập các hệ thống chiếm đóng kiên cố, nhiều tuyến, nhiều vòng từ biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia đến các trung tâm thị xã, thị trấn để ngăn chặn các cuộc tiến công từ ngoài vào và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Chúng xây dựng các căn cứ dự trữ lớn ở Tây Nguyên, mở rộng các đường chiến lược…, ráo riết thi hành chính sách “chia để trị” bằng các thủ đoạn thâm độc, răn đe, mua chuộc, phá hoại mối đoàn kết các dân tộc, gây chia rẽ đồng bào Kinh và Thượng hòng làm chủ Tây Nguyên.


Tuy nhiên, cùng với cả nước, quân và dân Tây Nguyên sắt son một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, phát huy kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã anh dũng đứng lên vừa xây dựng địa bàn, vừa đẩy mạnh kháng chiến. Bằng các loại vũ khí thô sơ (chông, thò, bẫy) kết hợp với vũ khí được trang bị, quân và dân Tây Nguyên đã tổ chức nhiều căn cứ chiến đấu, căn cứ du kích mạnh, thực sự là “pháo đài” chống giặc.


Nhờ đó, trong suốt quá trình tiến hành kháng chiến, quân và dân Tây Nguyên đã trụ vững và phát huy được sức mạnh tiềm tàng của địa bàn chiến lược, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa tác chiến du kích với tác chiến chính quy, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, góp phần tạo thế phát triển cho cách mạng miền Nam. Trên mảnh đất Tây Nguyên, những địa danh An Khê, Mang Yang, Plei Me, Ia Đrăng, Sa Thầy, Đắk Tô, Đức Cơ, Chư Prông, Đắk Siêng… đều gắn liền với những chiến công tiêu biểu. Đặc biệt, thắng lợi của trận then chốt Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên trở thành một “đột phá khẩu” mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975, đưa sự nghiệp


chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.


Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chủ đề nghiên cứu về lịch sử kháng chiến nói chung, lịch sử quân sự các địa phương, địa bàn có giá trị về chiến lược quân sự nói riêng luôn thu hút sự quan tâm của các cơ quan, nhà khoa học trong cả nước. Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài được công bố, trong đó có các công trình, đề tài đề cập đến quá trình quân và dân Tây Nguyên tham gia, đóng góp cho kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tùy thuộc mục đích nghiên cứu, kết quả của những công trình, đề tài đã tập trung làm rõ một số vấn đề, khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến lịch sử quân sự Tây Nguyên thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Trước yêu cầu đó, Viện Lịch sử quân sự tổ chức nghiên cứu, biên soạn bộ sách Lịch sử quân sự Tây Nguyên gồm nhiều tập. Trong đó, Tập II trình bày về lịch sử quân sự Tây Nguyên thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), nhằm làm rõ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với vùng đất Tây Nguyên; tái hiện quá trình quân và dân Tây Nguyên xây dựng và phát triển lực lượng, củng cố thế trận, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước… Qua đó khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng; đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học có thể vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa


bàn chiến lược Tây Nguyên, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, biên soạn, song cuốn sách khó có thể phản ánh một cách đầy đủ hoạt động vô cùng phong phú, sáng tạo, vừa xây dựng, củng cố địa bàn, vừa tổ chức lực lượng, thế trận của quân và dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Viện Lịch sử quân sự mong nhận được sự quan tâm, chia sẻ cùng những ý kiến đóng góp xây dựng của bạn đọc.


Nhân dịp cuốn “Lịch sử quân sự Tây Nguyên, Tập II: 1954 - 1975” được xuất bản, Viện Lịch sử quân sự chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến xây dựng; cảm ơn các cơ quan, đơn vị và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cộng tác, giúp đỡ để cuốn sách ra mắt bạn đọc gần xa.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ

LỜI NÓI ĐẦU 5


Chương 1 CHỦ ĐỘNG CỦNG CỐ TIỀM LỰC QUÂN SỰ ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1954 - 1960) 9


1. Bối cảnh lịch sử và những yếu tố tác động đến hoạt động quân sự ở Tây Nguyên 9


2. Từng bước củng cố, khôi phục lực lượng, đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ và tiến hành phong trào Đồng khởi 35


Chương 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, HỖ TRỢ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1961 - 1965) 73


1. Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, đẩy mạnh tiến công quân sự, đánh bại một bước chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ 73


2. Xây dựng Tây Nguyên thành chiến trường tiêu diệt lớn quân địch, hậu phương trực tiếp vững chắc của chiến trường, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ 119


Chương 3 XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ ĐỊA BÀN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965 - 1968) 150


1. Giữ vững thế chủ động, cùng toàn Miền đẩy mạnh tiến công quân sự, làm thất bại bước đầu kế hoạch “tìm diệt và bình định” của đế quốc Mỹ 150


2. Chuẩn bị và tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ 194


Chương 4 CỦNG CỐ THỰC LỰC VỀ MỌI MẶT, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI MỘT BƯỚC CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969 - 1972) 229


1. Vượt qua thử thách, bám đất, bám dân, liên tục tiến công địch, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân 229


2. Phát triển thế tiến công, đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên 268


Chương 5 CHUẨN BỊ THẾ VÀ LỰC, NẮM VỮNG THỜI CƠ CHIẾN LƯỢC, GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN (1973 - 1975) 308


1. Giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, chuẩn bị thế và lực trên chiến trường Tây Nguyên 308


2. Nắm bắt thời cơ chiến lược, tiến công giải phóng Tây Nguyên 357


KẾT LUẬN 413


PHỤ LỤC 423


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 445

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Lịch sử Quân sự Tây Nguyên – Tập 2: 1954-1975”