Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam – Tập 2 (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII)

Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, tập 2 trình bày sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, đặt ra những vấn đề nghệ thuật quân sự giá trị và hệ trọng. Nhà Trần (1226 – 1400), sau thời hưng thịnh, đến nửa cuối thế kỷ XIV đã từng bước lâm vào khủng hoảng và suy thoái toàn diện cả chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly phế truất Vua Trần, lập ra triều Hồ (1400 – 1407), đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu. Giữa lúc triều Hồ mới thành lập, đất nước đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách thì nguy cơ xâm lược của nhà Minh, một đế chế hùng mạnh bậc nhất ở phương Đông lúc bấy giờ đã đến gần, đe dọa nền độc lập dân tộc. Ngay từ khi thành lập cho đến khi quân Minh xâm lược, với tinh thần cảnh giác cao và quyết tâm chống ngoại xâm, triều Hồ vừa tiến hành cải cách toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng, củng cố chế độ quân chủ tập quyền, vừa tập trung mọi nỗ lực cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Triều Hồ dốc sức, gấp rút chuẩn bị lực lượng, vũ khí, thuyền chiến, xây dựng hệ thống phòng tuyến, thành lũy kiên cố. Đồng thời, chủ động đề ra các sách lược nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được chu đáo. Tuy nhiên, chỉ sau hơn nửa năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại hoàn toàn. Đây cũng là cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm đầu tiên của nước ta bị thất bại sau gần năm

Tác giả: Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự

Kích thước: 14,5 x 20,5

0

Liên hệ ngay

Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, tập 2 trình bày sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, đặt ra những vấn đề nghệ thuật quân sự giá trị và hệ trọng. Nhà Trần (1226 - 1400), sau thời hưng thịnh, đến nửa cuối thế kỷ XIV đã từng bước lâm vào khủng hoảng và suy thoái toàn diện cả chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly phế truất Vua Trần, lập ra triều Hồ (1400 - 1407), đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu. Giữa lúc triều Hồ mới thành lập, đất nước đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách thì nguy cơ xâm lược của nhà Minh, một đế chế hùng mạnh bậc nhất ở phương Đông lúc bấy giờ đã đến gần, đe dọa nền độc lập dân tộc. Ngay từ khi thành lập cho đến khi quân Minh xâm lược, với tinh thần cảnh giác cao và quyết tâm chống ngoại xâm, triều Hồ vừa tiến hành cải cách toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng, củng cố chế độ quân chủ tập quyền, vừa tập trung mọi nỗ lực cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Triều Hồ dốc sức, gấp rút chuẩn bị lực lượng, vũ khí, thuyền chiến, xây dựng hệ thống phòng tuyến, thành lũy kiên cố. Đồng thời, chủ động đề ra các sách lược nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được chu đáo. Tuy nhiên, chỉ sau hơn nửa năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại hoàn toàn. Đây cũng là cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm đầu tiên của nước ta bị thất bại sau gần năm


thế kỷ độc lập (939 - 1407), đưa nước ta vào thời kỳ bị nhà Minh đô hộ.


Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ (1407 - 1427), giặc Minh đã vơ vét của cải, tài nguyên nước ta đến khánh kiệt, bóc lột người dân hết sức tàn bạo, thực hiện chính sách đồng hóa hết sức thâm độc, đồng thời tiến hành trấn áp tàn khốc các cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Nhưng chúng không đè bẹp được ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta. Trong 21 năm nhà Minh đô hộ đã có hơn 60 cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ diễn ra nhưng đều thất bại. Thất bại của nhà Hồ và các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh là bài học quân sự để Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, kiên trì xây dựng, củng cố căn cứ, phát triển lực lượng. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã tập hợp được những người yêu nước và tài năng của đất nước, huy động được sức mạnh toàn dân tham gia đánh giặc... Sau 10 năm chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, nghĩa quân Lam Sơn đã từng bước thiết lập được thế đứng chân vững chắc ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hóa, sau đó tổ chức tiến quân ra Bắc, tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng trực diện với kẻ thù ở Đông Quan. Khi quân Minh tăng viện, Lê Lợi và bộ chỉ huy khởi nghĩa đã thực hiện chủ trương “vây thành, diệt viện”, vây chặt thành Đông Quan, đánh chiếm thành Xương Giang, buộc hàng các đồn, trại của địch trên trục đường tiến về Đông Quan, tạo điều kiện thuận lợi để tập trung lực lượng đánh bại các đạo quân tăng viện chủ yếu của quân Minh. Với chủ trương vây chặt Đông Quan, ép hàng các thành còn lại, tập trung lực lượng đánh bại các đạo quân tăng viện, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh bại ý chí xâm lược của quân Minh, buộc chúng chấp nhận nghị hòa và tổ chức rút quân về nước, chấm dứt họa xâm lăng của nhà Minh.


Sau thời kỳ đất nước độc lập, thịnh trị dưới thời Lê Sơ, Đại Việt lại rơi vào thời kỳ nội bộ các vương triều tranh giành quyền lực. Năm 1672, sông Gianh (Quảng Bình) được chọn làm giới tuyến phân chia vùng kiểm soát. Vua Lê - Chúa Trịnh kiểm soát phần phía Bắc (Đàng Ngoài); còn phần phía Nam (Đàng Trong) do Chúa Nguyễn cai quản.


Sau khi chấm dứt chiến tranh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cả Đàng Trong và Đàng Ngoài từng bước được phục hồi, đời sống nhân dân từng bước được ổn định. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XVIII, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong lâm vào khủng hoảng. Nền kinh tế, nhất là nông nghiệp đình trệ, thủ công nghiệp sa sút, mâu thuẫn xã hội gia tăng dẫn đến việc các tầng lớp nhân dân, nhất là nông dân đã liên tục nổi dậy chống lại chính quyền. Trong đó, ở Đàng Trong, chỉ trong vòng 18 năm


(1771 - 1789), dưới sự lãnh đạo của ba anh em Tây Sơn, từ một cuộc khởi nghĩa dấy lên từ ấp Tây Sơn (Bình Định), phong trào đã nhanh chóng đập tan chế độ phong kiến cát cứ Trịnh - Nguyễn, xóa bỏ chế độ phong kiến thống trị, chia cắt đất nước. Thiên tài quân sự Nguyễn Huệ - Quang Trung, trước sự xâm lăng của quân Xiêm và quân Thanh, đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc lui binh chiến lược một cách hoàn hảo, tạo thế, tạo lực để tổ chức trận phản công chiến lược, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh.


Trong hai cuộc kháng chiến này đã tạo nên nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam; đó là nghệ thuật lui binh khéo léo, hành quân thần tốc, chọn khu vực tác chiến, hướng tiến công, tổ chức, sử dụng lực lượng tập trung, linh hoạt và thực hiện cách đánh nhanh, bí mật, bất ngờ… đã nhanh chóng đánh tan hai đạo quân xâm lược Xiêm và Thanh, đặt cơ sở thống nhất quốc gia, chủ quyền dân tộc.


Quân sự có liên quan chặt chẽ tới kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là về vai trò của “thủ lĩnh” trong việc hình thành tư tưởng chiến lược tiến công, trong tổ chức lực lượng, thế trận; trong phát động cuộc chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi. Cả thành công và thất bại của các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống ngoại xâm trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII cần được nghiên cứu khách quan, toàn diện để chỉ ra những vấn đề nghệ thuật quân sự nào cần được kế thừa, bổ sung, phát triển, những vấn đề nào cần rút ra bài học kinh nghiệm để tránh vấp phải những sai lầm trong lịch sử. Do vậy, công trình Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, tập 2 (Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII), trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học viết về lịch sử quân sự, tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự, tổ chức quân sự… đã xuất bản và các tài liệu lưu trữ, tập thể các tác giả tái dựng bức tranh chân thực của lịch sử trong giai đoạn này và rút ra những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về nghệ thuật quân sự, góp phần bổ sung vào kho tàng lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Với công trình Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, tập 2 (Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII), chúng tôi muốn góp phần giải quyết những vấn đề lịch sử về sự hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong khoảng thời gian bốn thế kỷ với những biến động thăng trầm của lịch sử, những vấn đề về khởi nghĩa, kháng chiến chống ngoại xâm trải qua nhiều triều đại khác nhau, với những đặc điểm của mỗi cuộc khởi nghĩa, kháng chiến có sự khác nhau về đường lối, tư tưởng quân sự, chiến lược quân sự, chiến thuật, tổ chức, sử dụng lực lượng... Có cuộc khởi nghĩa, kháng chiến thành công, có cuộc thất bại, nhưng đã để lại cho chúng ta nhiều nội dung cần nghiên cứu về nghệ thuật quân sự. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của công trình, chúng tôi chỉ mới đề cập một số nội dung về nghệ thuật quân sự trong thời kỳ này.


Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, nhưng công trình không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế. Rất mong bạn đọc thông cảm và góp ý kiến.

Lời nói đầu 5


Chương 1: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MINH XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU HỒ (1400 - 1407) 11


I. TÌNH HÌNH ĐẠI VIỆT - ĐẠI NGU CUỐI THẾ KỶ XIV, ĐẦU THẾ KỶ XV 11


1. Tổng quan Đại Việt - Đại Ngu cuối triều Trần, đầu triều Hồ 16


2. Hồ Quý Ly và những cải cách cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV 22


II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MINH XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU HỒ 22


1. Âm mưu xâm lược của nhà Minh 22


2. Chuẩn bị kháng chiến của triều Hồ 26


3. Kháng chiến chống Minh xâm lược của triều Hồ 36


III. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU HỒ 65


1. Xác định chiến lược, chiến thuật 65


2. Xây dựng, tổ chức, sử dụng lực lượng và chuẩn bị thế trận kháng chiến chống Minh 75


3. Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, huy động toàn dân đánh giặc 85


Chương 2: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NGHĨA QUÂN LAM SƠN (1418 - 1427) 95


I. SỰ ĐÔ HỘ CỦA NHÀ MINH VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN TA TRƯỚC KHỞI NGHĨA LAM SƠN 95


1. Tổ chức chính quyền đô hộ của nhà Minh 95


2. Những hậu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội do nhà Minh gây ra 100


3. Phong trào đấu tranh chống quân Minh của nhân dân ta trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 107


II. KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NGHĨA QUÂN LAM SƠN 118


1. Quá trình hình thành và phát triển cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 118


2. Giai đoạn chuyển hướng vào xây dựng căn cứ ở Nghệ An 130


3. Hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn ở phía Bắc 139


III. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NGHĨA QUÂN LAM SƠN (1418 - 1427) 179


1. Nghệ thuật xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng 179


2. Nghệ thuật “đánh lâu dài, chủ động tiến công” 197


3. Nghệ thuật “vây thành, diệt viện” 208


4. Nghệ thuật “mưu phạt tâm công”, “vừa đánh vừa đàm” 219


5. Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật 224


Chương 3: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU TÂY SƠN 234


I. KHỞI NGHĨA TÂY SƠN VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XIÊM XÂM LƯỢC (1784 - 1785) 234


1. Tình hình Đại Việt thế kỷ XVIII 234


2. Khởi nghĩa Tây Sơn và quá trình thống nhất Đàng Trong 241


3. Tây Sơn đại phá quân xâm lược Xiêm 279


II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN THANH XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU TÂY SƠN (1788 - 1789) 291


1. Tây Sơn đánh bại tập đoàn phong kiến Chúa Trịnh 291


2. Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Thanh 303


3. Tây Sơn đại phá quân Thanh 313


III. NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC CỦA TRIỀU TÂY SƠN 329


1. Rút lui chiến lược tạo thế, tạo lực phản công đúng thời cơ, giành thắng lợi quyết định 329


2. Tổ chức hành quân thần tốc, tiến công táo bạo, bất ngờ, mãnh liệt 345


3. Chọn khu vực tác chiến, hướng tiến công chính xác, tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý 352


4. Tiến công nhiều hướng, mũi, thực hiện chia cắt, làm tan rã và tiêu diệt quân địch 365


5. Tập trung ưu thế lực lượng, tiến công mãnh liệt bằng một trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh 371


Kết luận 381


Phụ lục 399


Tài liệu tham khảo 409

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam – Tập 2 (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII)”