Trích đoạn
Khắc khoải mùa sim trổ hoa
Xốc ba lô lên vai, băng qua một con dốc nữa chúng tôi mới gặp được người để hỏi thăm. Ủy ban xã Phú Minh sơ tán về mấy nơi ở lẫn với dân. Cơ quan xã đội, nơi chúng tôi cần đến nằm phía bên kia triền đồi. Cả một vùng đồi bát úp bạt ngàn cây sim. Đúng mùa sim trổ hoa. Làn gió từ dòng sông Lô ngắt xanh trào lên khiến ngàn hoa rung rinh tím ngắt. Không hiểu vì cái màu tím mê mải đầy ẩn ức của loại hoa đồng rừng này hay cảm giác nặng nề của nhiệm vụ mà lòng tôi bỗng dưng trĩu xuống. Một nỗi buồn se sắt len lỏi trong tâm trạng mỗi khi sắp phải đối diện với những người mà chúng tôi phải gặp, làm việc.
Đã mấy năm nay, tổ Di vật liệt sĩ của chúng tôi lặng lẽ tiến hành hàng trăm chuyến đi về mọi miền để làm công việc bàn giao cho gia đình những người đã mất chút di vật ít ỏi mà liệt sĩ để lại. Có người còn đầy đủ tư trang, nhưng phần nhiều liệt sĩ chỉ đôi dép, cái mũ hoặc cuốn nhật ký thấm máu. Lần này chúng tôi về Phú Minh bàn giao di vật của liệt sĩ Phan Huy Thạnh. Tôi và Nga đặt ba lô xuống gò đất bên dưới tán một cây lụ già. Chưa kịp lau mồ hôi thì giật bắn mình. Một giọng đàn ông đã có tuổi khô khốc, đanh sắt cất lên:
- Các chị đi đâu mà dừng ở đây? Đề nghị cho tôi xem giấy tờ.
Khăn màu cỏ úa vắt vai, hai chân giạng ra kéo sệt trên mặt đất để ghìm đà chạy chiếc xe đạp Phượng hoàng cũ sơn màu xanh lem nhem. Ông lão nhìn chúng tôi từ đầu đến chân đầy vẻ dò xét, cảnh giác. Lật ngược lật xuôi tờ công lệnh một lúc lâu, ông khoát tay nói cụt lủn:
- Mời các chị đi theo tôi.
Theo một con dốc nhỏ cheo leo ông dẫn chúng tôi đến căn nhà nhỏ nép sát dưới lùm cây trám rậm xùm xòa. Dựng xe bên cây rơm, ông vào bếp uống bát nước rồi hấp hả quay ra. Thay đổi cách xưng hô, giọng ông chùng xuống nhỏ nhẹ:
- Đây là nhà tôi. Hai đồng chí vào nghỉ cho đỡ mệt. Cũng đúng bữa trưa rồi. Bà nhà tôi thổi niêu cơm ù một cái là xong. Các đồng chí cứ tự nhiên. Tôi đi báo xã đội trưởng đến đón.
Chúng tôi còn đang ngơ ngác trước tình huống đột ngột này thì ông lão đã quay ngoắt chiếc xe đạp phóng vù ra cổng. Từ dưới bếp bác gái chủ nhà xách ấm nước chè tươi lên. Lúc này chúng tôi mới biết ông tên là Đức, trưởng xóm Đồi. Vừa rót nước ra hai chiếc bát nông choèn choẹt, bác gái vừa than vãn:
- Đàn ông đàn ang đâu hết mà các cháu phải vất vả thế này.
Uống một hơi nước, tôi hỏi bác Đức gái:
- Bác ơi, khu tập thể công nhân ga Phú Minh cách đây có xa không ạ?
- Ấy ngày trước thì còn khu tập thể nhưng bom nó ném tan cả rồi. Bây giờ các hộ công nhân cũng sống xen lẫn linh tinh với khu dân cư chúng tôi. Ngoài công việc ở nhà ga các gia đình công nhân cũng trồng trọt như nông dân cả thôi. À mà hai cháu về địa phương hẳn là để tuyển quân phải không?
Tôi và Nga nhìn nhau chưa biết trả lời bác Đức gái thế nào. May mà dường như bác hỏi cũng để cho có hỏi. Chưa dứt câu bác đã chống gối đứng dậy xuống bếp.
- Hai cháu ra giếng rửa mặt mũi chân tay cho nó mát rồi vào ăn trưa. Cơm dễ chừng cũng chín rồi đấy.
Vẫn còn khá ngỡ ngàng trước sự bất ngờ ngoài dự liệu của chuyến đi, nhưng hai chúng tôi vẫn răm rắp làm theo. Vả lại bác Đức cầm công lệnh giấy tờ của chúng tôi lên báo cáo với xã đã về đâu. Tôi thay đổi cách xưng hô:
- Chờ bác trai về cùng ăn chứ bác?
- Không. Ông ấy ăn cỗ bên hàng xóm rồi. Tôi cũng định ăn nhếu nháo cái gì cho xong bữa, nhưng may quá có hai cháu nên nổi lửa một tý. Cơm đồng rừng sẵn củi chả mấy mà chín. Nào ngồi xuống các cháu. Cứ tự nhiên nhá. Ăn cho no vào. Đi tàu từ đêm qua chắc đói lắm rồi. Nhớ ăn hết cho bác kẻo thừa chiều lại cơm nguội khó ăn lắm.
Bác Đức gái vừa xới cơm cho chúng tôi vừa xuýt xoa động viên như đón con gái đi xa trở về. Chúng tôi cảm nhận sự ấm áp qua mỗi cử chỉ nhỏ nhất của bác. Vừa bưng bát cơm lên chưa kịp ăn bỗng ngoài sân một phụ nữ còn khá trẻ quần ống thấp ống cao hấp hả bổ nhào vào. Tay chị cầm chiếc nón lá cũng sơn màu phòng không xanh xám. Gương mặt chị lúc như đỏ lên, lúc tái dại đi. Chị ngồi xuống thềm cửa. Tiếng hức đau đớn:
- Bà ơi… Các chị ơi. Đau đớn thân em quá…
Bác Đức gái buông bát lập cập bước ra. Hai đứa chúng tôi cũng đặt bát cơm xuống mâm chưa hiểu chuyện gì.
- Có chuyện gì thế này hở mẹ cu Sơn…? Hay bà cụ bên nhà thế nào rồi?
Chị ôm chầm lấy bác Đức gái:
- Bà ơi. Con đã linh cảm chuyện này từ dạo có tin đồn rồi mà. Đau đớn quá bà ơi! Mẹ con lại đang ốm nặng. Nếu biết tin này mẹ con chết mất bà ơi!
Tôi ngồi chết trân nhìn cái Nga. Những lời rên rẩm của thiếu phụ hình như có liên quan đến sự có mặt của chúng tôi lúc này. Qua giới thiệu của bác Đức gái tôi biết tên chị là Oanh vợ liệt sĩ Thạnh mà chúng tôi có nhiệm vụ về bàn giao di vật. Bác Đức trai chính là chú ruột của liệt sĩ Thạnh. Mấy tháng trước trong dân rộ lên tin đồn anh Thạnh chồng chị Oanh đã hy sinh từ năm ngoái. Sự có mặt của chúng tôi chính thức khẳng định nỗi mất mát to lớn đó của gia đình bác, đặc biệt là chị Oanh. Một tình huống ngoài dự liệu. Chắc bác Đức đã báo tin cho chị Oanh. Chị chìa hai cánh tay run rẩy về phía chúng tôi:
- Em van hai chị. Xin các chị đừng cho mẹ em biết chuyện vào lúc này. Mẹ em chết mất. Trời ơi khổ thân con thế này…
Chúng tôi mỗi đứa một bên dìu chị Oanh đứng dậy. Mẹ chồng chị Oanh đang ốm nặng. Anh Thạnh là con trai duy nhất. Những ngày này bà cụ chỉ một niềm mong mỏi duy nhất được nhìn thấy mặt con trai trước khi nhắm mắt. Ít nhất là biết tin con trai khỏe mạnh, một lá thư gửi về chẳng hạn.
Công việc bàn giao di vật liệt sĩ của chúng tôi không nặng nhọc, gian khổ nhưng luôn phải đối mặt với biết bao tình huống khó xử, đau buồn và day dứt. Biết rõ tình cảnh của chị Oanh tự nhiên tôi cảm thấy mình như người có lỗi. Tôi và Nga vừa vỗ về chị vừa lau nước mắt mình cũng đang lã chã tuôn theo. Hai đứa tôi còn quá trẻ, chưa có gia đình để thấu cảm nỗi đau của người vợ mất chồng. Chúng tôi chỉ tưởng tượng theo sự hiểu biết của mình, chỉ cảm thông với nỗi đau ấy chứ không thể biết nó vò xé tâm can đến mức nào. Bên cạnh nỗi đau mất chồng, chị Oanh còn lo sợ cho sức khỏe của mẹ chồng. Làm sao để bà cụ không phải đau đớn trước lúc nhắm mắt xuôi tay. Không ai được phép làm cho bà cụ phải chịu nỗi đau quá lớn như thế. Nếu số trời đã hết, chị cầu mong mẹ được ra đi trong thanh thản. Mẹ ra đi đem theo hy vọng con trai mẹ sẽ trở về và có cuộc sống hạnh phúc.
Bác Đức trai và hai cán bộ xã Phú Minh đến giữa lúc chúng tôi chưa biết xử lý câu chuyện bất ngờ này như thế nào. Không còn phải úp mở giấu giếm gì nữa, sau khi nghe chúng tôi trình bày nội dung nhiệm vụ, ông xã đội trưởng giới thiệu về gia đình chị Oanh, mối quan hệ giữa chị và gia đình bác Đức và đề nghị chúng tôi bàn giao di vật của liệt sĩ Thạnh ngay tại nhà bác trước sự chứng kiến của xã và gia đình. Việc báo tử và làm lễ truy điệu do xã tiến hành vào lúc tình hình địa phương thuận lợi nhất. Xã và gia đình muốn mọi thông tin về liệt sĩ Thạnh lúc này cần giữ kín. Bệnh tình của mẹ anh Thạnh rất nguy kịch, chắc cũng chỉ ngày một ngày hai mà thôi.
Việc bàn giao di vật tuy có tình huống bất ngờ nhưng cuối cùng cũng hoàn thành. Chúng tôi lần nữa có lời chia buồn với chị Oanh và gia đình bác Đức. Chờ đến tối chúng tôi sẽ theo tàu ngược Tuyên Quang.
Nghe chúng tôi nói, bác Đức và hai cán bộ xã Phú Minh nháy nhau ra sân hội ý. Một lúc sau họ vào nhà. Vị phó chủ tịch phụ trách khối văn xã đến bên hai đứa chúng tôi. Ông ta tỏ ra ngần ngừ một lúc rồi cũng nói ra ý kiến của mình:
- Thưa hai đồng chí. Chả là địa phương và gia đình liệt sĩ Thạnh muốn được lưu hai đồng chí nghỉ lại địa phương đêm nay.
Chưa hiểu có chuyện gì trong lời yêu cầu lạ lùng đó của đại diện xã, tôi nhìn cái Nga thăm dò. Ông phó chủ tịch liền nói luôn:
- Sự thể là thế này hai đồng chí ạ. Ngoài trường hợp chồng chị Oanh, xã chúng tôi còn hai liệt sĩ nữa chưa tiện báo tử vào thời gian này. Tuy thế tin đồn vẫn ngày đêm luẩn quẩn trong người dân. Ngoài trách nhiệm của chính quyền, gia đình người thân của liệt sĩ Thạnh cũng phải nén chặt nỗi đau trong lòng. Phải thể hiện bình thường trước con mắt bà con chòm xóm. Nhưng chúng tôi biết, với chị Oanh đêm nay sẽ là một đêm vô cùng đau xót, nặng nề. Mẹ chồng thì đang trong tình trạng như thế. Chúng tôi nghĩ rất cần có người bên cạnh chị Oanh đêm nay. Bạn bè, các cháu gái có thể động viên an ủi nhưng rồi chuyện cũng dễ lộ ra. Hai đồng chí có thể cho lời đề nghị của chúng tôi là trái khoáy, kỳ quặc, nhưng quả thật chúng tôi muốn cầu xin nhờ cậy hai đồng chí đêm nay ở lại làm bạn với chị Oanh qua giây phút yếu lòng nhất này.
Đúng là hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tình huống mà chúng tôi chưa từng gặp phải ngay cả mường tượng ra trong suốt những năm tháng làm công việc này. Thần người một lúc, tôi nháy Nga ra sân. Bao nhiêu ánh mắt khắc khổ, cầu xin của mấy cán bộ xã và vợ chồng bác Đức đuổi theo chúng tôi. Hai đứa nhìn nhau ái ngại nhưng rồi cả Nga và tôi đều hiểu đây cũng là một việc nghĩa mà chúng tôi không thể chối từ.
Căn nhà chị Oanh nằm lọt thỏm trong xóm ga. Mẹ chồng chị đang ở nhà chị gái anh Thạnh cách đó không xa. Trước đây bà cụ ở với chị nhưng từ khi máy bay đánh phá đường sắt và nhà ga ngày một nhiều, chị gái anh Thạnh đón cụ về chăm sóc. Hàng ngày chị Oanh chạy đi chạy lại hai nơi. Đứa con trai duy nhất của anh chị cũng gửi về bên chị gái chồng. Đúng như tâm sự của ông cán bộ xã, lúc này chị Oanh không chỉ phải tỏ ra cứng cỏi để chăm sóc mẹ chồng mà còn cần thể hiện thái độ cư xử trước nỗi đau trong tình hình địa phương lúc đó để bà con nhìn vào. Đêm ấy, tôi và Nga chuẩn bị tâm thế trò chuyện an ủi chị, nhưng rồi chúng tôi chẳng phải cố gắng gì nhiều. Chị Oanh tỏ ra rất bình tĩnh. Chúng tôi biết chị đang nén nỗi đau lại. Chị chủ động hỏi thăm và quan tâm đến chúng tôi như người chị gái.





Reviews
There are no reviews yet.