Hà Nội với Đông Kinh nghĩa thục

Trong quá trình phát triển, Duy Tân hội chia làm hai phái: Phái bạo động còn gọi là phái Ám xã do Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Đặng Thái Thân… đứng đầu. Phái cải cách còn gọi là phái Minh xã do Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đứng đầu. Mục tiêu của phái Ám xã là vận động thanh niên du học, cầu ngoại viện, thành lập các căn cứ quân sự, liên kết với các lực lượng kháng chiến. Phái Minh xã chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh”…

Tác giả: Vũ Thanh Sơn

Kích thước: 13 x 19

41,000

Liên hệ ngay

LỜI NÓI ĐẦU


      Năm 1905, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các yếu nhân khác thành lập Duy Tân hội và tổ chức phong trào Đông Du. Hoạt động này đã thu hút những nhà cựu nho, tân học thiếu thời và các tầng lớp nhân dân khác.

      Trong quá trình phát triển, Duy Tân hội chia làm hai phái: Phái bạo động còn gọi là phái Ám xã do Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Đặng Thái Thân... đứng đầu. Phái cải cách còn gọi là phái Minh xã do Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đứng đầu. Mục tiêu của phái Ám xã là vận động thanh niên du học, cầu ngoại viện, thành lập các căn cứ quân sự, liên kết với các lực lượng kháng chiến. Phái Minh xã chủ trương "khai dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh".

      Tuy Duy Tân hội chia làm hai phái bạo động và cải cách, song vẫn hỗ trợ nhau một cách tích cực.

      Phan Bội Châu chủ trương bạo động nhưng cũng ủng hộ quan điểm: "Thực hiện dân quyền, khai hóa dân trí, mở mang thực nghiệp" của Phan Chu Trinh. Phan Bội Châu rất quan tâm đến việc học. Ông đã viết trong tập "Phan Bội Châu niên biểu": "Hồi tôi lên Đông Kinh (thủ đô Nhật Bản), cụ Tây Hồ (Cụ Tây Hồ: tức cụ Phan Chu Trinh (BT).) cùng đi với tôi tham quan khắp các học đường và khảo sát khắp những công việc chính trị, giáo dục Nhật Bản".

      Ngược lại, Phan Chu Trinh rất khâm phục con người và tài trí của Phan Bội Châu. Cụ ca ngợi Phan Bội Châu tổ chức thanh niên Việt Nam sang Nhật du học là "một việc làm rất lớn, biểu lộ sự ủng hộ hoàn toàn".

      Trong chuyến về nước lần thứ hai (1906), Phan Bội Châu đã có cuộc họp với Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền, Đỗ Châu Thiết, Nguyễn Quyền... ở nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng tại làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cuộc họp này nhằm thống nhất hai phái Minh xã và Ám xã, bàn bạc mở trường Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội, đồng thời phát triển các hội Nông, Công, Thương ở Hà Nội và các tỉnh.

      Ngay sau Hội nghị ở làng Nội Duệ, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tăng Bí... tích cực chuẩn bị thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục. Các cụ phân công Nguyễn Quyền, nguyên Huấn đạo Lạng Sơn và Trần Đình Đức, giảng viên dạy tiếng Pháp làm đơn xin với phủ Thống sứ Bắc Kỳ mở trường. Mọi người bầu cụ Lương Văn Can làm Thục trưởng, Nguyễn Quyền làm Giám học. Trường thành lập bốn ban là ban Giáo dục, ban Tài chính, ban Cổ động, ban Tu thư (Có tài liệu gọi là Ban Trước tác) do các nhà nho và tân học đảm nhiệm.

      Tháng 3 năm 1907, trường khai trương, đến tháng 5 năm 1907 phủ Thống sứ mới cấp phép.

      Trường Đông Kinh nghĩa thục dạy Việt văn, Hán văn, Pháp văn, lịch sử, địa lý, toán pháp, luân lý, cách trí. Có thể gọi Đông Kinh nghĩa thục là "Trường dạy làm người". Tài liệu giảng dạy là văn thơ của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ... như "Hải ngoại huyết thư", "Á tế Á", "Bài ca yêu nước", "Quốc dân độc bản"... Nhà trường còn tổ chức nhiều buổi diễn thuyết, bình giảng thơ văn cho đông đảo công chúng nghe.

      Trường Đông Kinh nghĩa thục số 4 phố Hàng Đào vừa mở, tại Hà Nội đã có nhiều phân hiệu của trường được thành lập. Lợi ích của trường Đông Kinh nghĩa thục là thức tỉnh quần chúng nhân dân chống ngoại xâm, giành lại quyền độc lập tự do cho dân tộc.

      Các nhà sáng lập Đông Kinh nghĩa thục còn thực hiện chủ trương của Duy Tân hội là "thực hiện dân quyền, khai hóa dân trí, mở mang thực nghiệp" đã mở hội buôn, thủ công nghiệp, khai thác than, mở mang đồn điền...

      Các nhà sáng lập Đông Kinh nghĩa thục không quên thực hiện các công việc để chuẩn bị vũ trang, liên kết với các cuộc khởi nghĩa Yên Thế, tham gia thành lập đảng Nghĩa Hưng mà mục tiêu chính là khởi nghĩa vũ trang, vận động binh lính thành Hà Nội trong vụ "Hà thành đầu độc", thành lập xưởng sản xuất vũ khí.

      Các hoạt động của trường Đông Kinh nghĩa thục vượt ra ngoài phạm vi chính trị, quân sự khiến nhà cầm quyền Pháp lo ngại. Vì vậy, tháng 11 năm 1907, phủ Thống sứ Bắc Kỳ đã rút giấy phép và đóng cửa trường, tịch thu tài liệu giảng dạy, đóng cửa tờ "Đăng Cổ tùng báo" - cơ quan ngôn luận của trường, triệt phá các cơ sở kinh tế của trường. Tất cả những người có liên quan đến trường đều bị gọi lên sở cảnh sát tra hỏi và bị giám sát. Khi nổ ra vụ chống thuế ở Quảng Nam (3-1908), vụ Hà thành đầu độc (5-1908), vụ ném lựu đạn ở Thái Bình và Hà Nội (1913), nhà cầm quyền Pháp đã bắt hầu hết các nhà sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, đưa ra tòa án xét xử tử hình, đày đi Côn Đảo, Lao Bảo và bị an trí ở Nam Kỳ, Phnôm Pênh.

      Đông Kinh nghĩa thục chỉ xuất hiện ở Hà Nội và các tỉnh trong chín tháng nhưng đã là tiếng chuông thức tỉnh đồng bào ra khỏi cơn mê kéo dài hàng chục năm trong kiếp sống nô lệ. Nói một cách khác, Đông Kinh nghĩa thục là một trong những bó đuốc tạo thành đám cháy lớn thiêu hủy ách đô hộ tám mươi năm của thực dân Pháp cùng lũ vua quan bán nước, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.


      TÁC GIẢ

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Hà Nội với Đông Kinh nghĩa thục”