Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu với hơn 90% dân số làm nông nghiệp, đến nay Việt Nam đã xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội khá tốt, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thuận lợi thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển. Thành tựu lớn nhất sau 30 năm đổi mới là đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Suốt hơn 30 năm qua, kinh tế Việt Nam luôn có mức tăng trưởng khá cao so với các nước trên thế giới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường và giữ vững; văn hóa – xã hội có bước phát triển khá; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi, nhiều chỉ tiêu thiên niên kỷ của thế giới đề ra đã đạt được. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng hơn. Hơn 30 năm qua, Nhà nước ta đã không ngừng tăng cường hoàn thiện thể chế, kiên trì phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa thành pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế vận hành có hiệu quả…

Tác giả: Nguyễn Đắc Hưng - Phùng Thế Đông

Kích thước: 14,5 x 20,5

91,000

Liên hệ ngay

LỜI NÓI ĐẦU


Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu với hơn 90% dân số làm nông nghiệp, đến nay Việt Nam đã xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội khá tốt, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thuận lợi thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển. Thành tựu lớn nhất sau 30 năm đổi mới là đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Suốt hơn 30 năm qua, kinh tế Việt Nam luôn có mức tăng trưởng khá cao so với các nước trên thế giới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường và giữ vững; văn hóa - xã hội có bước phát triển khá; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi, nhiều chỉ tiêu thiên niên kỷ của thế giới đề ra đã đạt được. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng hơn. Hơn 30 năm qua, Nhà nước ta đã không ngừng tăng cường hoàn thiện thể chế, kiên trì phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa thành pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế vận hành có hiệu quả.

So với thời kỳ trước đổi mới, tiềm lực và quy mô nền kinh tế của Việt Nam không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tạo ra nhu cầu và động lực phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện chủ trương, đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Những nỗ lực đổi mới sau hơn 30 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư ở nước ta liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển. Hơn 30 năm đổi mới là một thử thách lớn đối với nước ta trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ở nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của quốc tế. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại, chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhất là xuất khẩu hàng nông sản đang có những cải thiện đáng kể.

Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước hình thành và phát triển; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được quan tâm xây dựng và từng bước hoàn thiện. Môi trường đầu tư không ngừng được thông thoáng, thế và lực của nước ta vững mạnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đồng thời chúng ta cũng nhận thức rõ hơn đất nước ta vẫn còn những hạn chế, khó khăn không nhỏ của nền kinh tế đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết với những quyết sách quan trọng trong thời gian tới để đưa nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn, mặc dù các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá so với trước thời kỳ đổi mới. Ngành công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục, tốc độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới được chú ý hơn và đạt hiệu quả tốt hơn. Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng về số lượng, chất lượng và mẫu mã, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bước bảo đảm tốt hơn cán cân cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao . Những năm gần đây, khu vực kinh tế nông nghiệp phát triển khá ổn định; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển biến quan trọng, từ lúc cả nước còn thiếu ăn, nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn đứng thứ hai thế giới, góp phần tích cực vào việc giữ an ninh lương thực quốc tế. Bên cạnh đó, xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn và đứng thứ hạng cao trên thế giới. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường gắn với yêu cầu phát triển bền vững đã được quan tâm và đem lại kết quả rất phấn khởi. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đang trên đà phát triển, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y tế. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao đã tạo những tiền đề để bước đầu chuyển sang xây dựng nền kinh tế tri thức, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Ngày nay, thế giới đang bước sang một thời đại mới, thời đại của nền kinh tế tri thức. Trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thì nội hàm và cách thức tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam cũng phải có những thay đổi một cách sâu sắc cho phù hợp với thời đại mới. Với sự mong muốn được trao đổi về thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh mới, tác giả trân trọng giới thiệu cuốn sách "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư". Do kiến thức còn hạn chế, trong khi vấn đề nghiên cứu vô cùng phong phú, rộng lớn, nên cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong bạn đọc góp ý phê bình.

Xin trân trọng cảm ơn.


NHÓM TÁC GIẢ


LỜI NÓI ĐẦU ....... 5

Chương I. Về con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam ....... 11

I. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ....... ....... 11

II. Các tiêu chí và mức độ hoàn thành cho một nước công nghiệp ....... 16

III. Sơ lược kết quả thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam ....... 22

IV. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ....... 36

V. Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến sự phát triển của Việt Nam ....... 43

VI. Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam ....... 47

VII. Điều kiện thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

Việt Nam ....... 78

Chương II. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: cơ hội và thách thức cho Việt Nam ....... 84

I. Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam ....... 84

II. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tư duy của doanh nghiệp ....... 112

III. Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến thị trường lao động và việc làm ....... 134

IV. Vấn đề đặt ra với giáo dục và thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở Việt Nam ....... 166

Chương III. Định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư ....... 195

I. Bối cảnh kinh tế thế giới và tác động đến Việt Nam ....... 195

II. Bối cảnh trong nước và những vấn đề đặt ra ....... 207

III. Định hướng chung về phát triển đất nước ....... 224

IV. Định hướng một số chính sách vĩ mô chủ yếu ....... 228

V. Định hướng phát triển công nghiệp ....... 284

VI. Định hướng phát triển khu vực doanh nghiệp ....... 318

VII. Định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ....... 342

VIII. Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng ....... 356

IX. Việt Nam trước vận hội mới ....... 369

LỜI KẾT ....... 377

TÀI LIỆU THAM KHẢO ....... 382


Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”