Chạm vào ký ức

Khi tôi cầm bút viết những dòng chữ này, những dòng chữ viết về mình, làng tôi đã có gần 650 tuổi. Năm Giáp Ngọ ấy (1954), bố mẹ tôi sinh tôi vào lúc mờ sáng, một ngày tháng bảy, gà còn gáy sáng, những người nông dân lục tục dắt trâu ra đồng. Bố tôi nói đặt tên tôi là để mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi biết mặt chữ, tôi đã ý thức được rằng mảnh đất sinh ra tôi là “mảnh đất địa linh nhân kiệt”. Dân quê tôi thích gọi xã Quỳnh Đôi của tôi là làng Quỳnh. Chữ làng Quỳnh nghe nó mộc mạc, ấm áp chân tình, dễ gần gụi và dễ hiểu nhau. Dù ở đâu, đi đâu, nghe câu làng Quỳnh là người ta xích lại với nhau. Làng Quỳnh là một cái làng kỳ lạ. Có nhà văn đã viết: “Ngay từ lúc khai thiên lập địa, Quỳnh Đôi lẫy lừng tiếng tăm là làng hiếu học và học rất giỏi… Có lẽ trên khắp đất nước Việt Nam ta chỉ duy nhất cái làng Quỳnh Đôi này có cái tập tục vô song, cái thuần phong văn hiến vô địch từ xa xưa. Việc học đã thành một nghề truyền thống! Học để làm quan phụng sự các triều đại; học để làm thầy mở mang dân trí, dân sinh; việc học còn là một nghề làm ăn kiếm sống…”. Bằng con đường học vấn tích tài mà tiến trên con đường sự nghiệp, công danh nhiều người đã đỗ đạt, đã trở thành rường cột quốc gia. Nhưng có một điều ít ai để ý, người làng tôi làm quan hầu hết đều liêm khiết, nhân nghĩa, trung thực, không chịu khuất trước bất công, làm quan nhưng vẫn nghèo!

Tác giả: Thiếu tướng Hồ Anh Thắng

Kích thước: 14,5 x 20,5

61,000

Liên hệ ngay



Trích đoạn

Trong niềm tự hào


Khi tôi cầm bút viết những dòng chữ này, những dòng chữ viết về mình, làng tôi đã có gần 650 tuổi. Năm Giáp Ngọ ấy (1954), bố mẹ tôi sinh tôi vào lúc mờ sáng, một ngày tháng bảy, gà còn gáy sáng, những người nông dân lục tục dắt trâu ra đồng. Bố tôi nói đặt tên tôi là để mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi biết mặt chữ, tôi đã ý thức được rằng mảnh đất sinh ra tôi là "mảnh đất địa linh nhân kiệt". Dân quê tôi thích gọi xã Quỳnh Đôi của tôi là làng Quỳnh. Chữ làng Quỳnh nghe nó mộc mạc, ấm áp chân tình, dễ gần gụi và dễ hiểu nhau. Dù ở đâu, đi đâu, nghe câu làng Quỳnh là người ta xích lại với nhau. Làng Quỳnh là một cái làng kỳ lạ. Có nhà văn đã viết: "Ngay từ lúc khai thiên lập địa, Quỳnh Đôi lẫy lừng tiếng tăm là làng hiếu học và học rất giỏi... Có lẽ trên khắp đất nước Việt Nam ta chỉ duy nhất cái làng Quỳnh Đôi này có cái tập tục vô song, cái thuần phong văn hiến vô địch từ xa xưa. Việc học đã thành một nghề truyền thống! Học để làm quan phụng sự các triều đại; học để làm thầy mở mang dân trí, dân sinh; việc học còn là một nghề làm ăn kiếm sống...". Bằng con đường học vấn tích tài mà tiến trên con đường sự nghiệp, công danh nhiều người đã đỗ đạt, đã trở thành rường cột quốc gia. Nhưng có một điều ít ai để ý, người làng tôi làm quan hầu hết đều liêm khiết, nhân nghĩa, trung thực, không chịu khuất trước bất công, làm quan nhưng vẫn nghèo!

Ơn các vị Thành Hoàng đã cắm đất, khai hoang, sinh cơ lập nghiệp làm nên làng Quỳnh. Nếu theo "thuyết phong thủy" xưa thì cái thế đất làng tôi hội tụ đủ "địa linh nhân kiệt", "phía Tây Bắc có núi Trụ Hải, hình cái tàn (lèn Tàn), tiếp theo là Thất Tinh sơn (bảy ngọn núi nối tiếp nhau hình ngôi sao thất tinh, cây cỏ tốt tươi)". Đây là khu di chỉ văn hóa Quỳnh Văn, trên 5.000 năm đã có người Việt cổ sinh sống. Phía đông có núi Quang Lĩnh giáp biển, đứng ở làng tôi nhìn thấy hình cái bảng (Bảng Giáp). Đối diện Bảng Giáp là núi Hiên Hoa (lèn Bèo), đứng ở làng tôi nhìn thấy hình cái bảng thứ hai (Bảng Canh). Bảng Giáp, Bảng Canh đều là hình tượng của việc học. Phía nam có núi Yên Mã (lèn Mục) hình yên ngựa. Chếch về phía tây nam có hòn Hung, hòn Thê (giáp huyện Diễn Châu) tượng trưng cho hai lá cờ vinh quy. Phía đông nam có Hòn Bút, Hòn Nghiên (ở Bút Luyện)... Những ngày tuổi thơ tôi mỗi buổi sáng khi mặt trời mọc, đứng giữa sân vừa hít thở khí làng, vừa xoay người bốn phía mà ngắm nhìn.

Tôi lớn lên trong niềm tự hào ấy mà lo. Từ làng tôi ra đi ai cũng thành đạt, dù cuộc đời có lúc thăng, lúc trầm, lúc cam go, lúc thử thách nhưng ít người bị cám dỗ, bị rơi vào vòng xoáy tội lỗi. Ai cũng canh cánh trong lòng một chữ: "Người làng Quỳnh". Tôi lo cái lo thời thế. Thời nào cũng có thế của nó, con người sống trong cái thời đó thì phải bắt được, chiếm được cái thế của thời đó. Nói đến làng tôi, người ta có thể kể đến hàng loạt các nhà văn, nhà khoa học, nhà chính trị, nhà quân sự... nổi tiếng và thời nào cũng có. Nhưng hầu như không có "nhà kinh tế" nào được sử sách nhắc đến. Thời kinh tế thị trường hôm nay, nói đến người tài năng về lĩnh vực làm kinh tế, làm giàu người ta hay dùng chữ "Đại gia". Làng tôi cho đến khi tôi cầm bút viết những dòng chữ này, không có ai được dán mác "Đại gia".

Tôi lớn lên như thế, trong một gia đình nghèo, trong một làng quê nghèo. Cho đến bây giờ làng tôi có đủ các thang bậc giá trị chính trị, văn hóa, xã hội... nhưng cái nghèo vẫn đeo đẳng. Ngày xưa theo truyền thống làng tôi, ngoài nghề chính gọi là "nghề học" thì còn rất nhiều nghề phụ: Nghề dệt vải, dệt màn và dệt lụa. Nghề dệt trủ (súc, săm); nghề kéo mật mía; nghề làm bún; nghề làm bánh mướt (bánh cuốn); nghề gạch ngói; nghề đi cày; nghề đi làm thợ; nghề đi buôn... Những cái nghề ấy bây giờ nghề còn, nghề mất. Nghề nào còn thì vẫn không làm cho làng tôi giàu hơn!

...

 TUỔI THƠ Ở LÀNG (Thay phần mở đầu)..........5

 Trong niềm tự hào..........7

 Giấc mơ sau lũy tre..........10

 Ở trạm lâm nghiệp Nghi Hương..........14

 Tài sản của bố..........16

 Những ngày nhập ngũ..........19

• TRỊ THIÊN KHÓI LỬA..........23

 Đêm ấy ở Quảng Liên..........25

 Mùa mưa ở A Vao..........31

 Về đoàn Phú Xuân..........33

 Sống cùng bom pháo..........37

 Cô văn công mặc bộ đồ đen..........41

 Đêm ngủ hầm với lính trinh sát..........44

 Tiểu đoàn bộ dưới chân dốc H15..........47

 Trận đánh đồi Bảo An..........50

 Bồi dưỡng hai lạng gạo..........53

 Những hạt gạo nhuốm máu..........56

 Đêm trong miếu hoang..........59

 Chiếc đài National đã "hy sinh"..........62

 Đêm trinh sát trước ngày ngừng bắn..........67

 Trường "Hạ sĩ quan Khe Rùa"..........70

 Đầu nguồn sông Tà Vệ..........75

 Buổi chiều u ám..........79

 Mỏ Tàu cuối "bảy tư"..........83

 Sáng mồng Một Tết năm 1975..........88

 Những ngày ở Huế..........91

 Đồng vọng giữa cố đô..........98

 Chuyện về những "Ngôi nhà hòa hợp"..........101

• THẾ LÀ TRƯỜNG LỤC QUÂN..........105

 Tiểu đoàn ngoài hàng rào..........107

 Một học viên cá biệt..........110

 Biên giới mùa xuân năm ấy.............113

 Mẹ ơi, con xin tạ lỗi!..........117

 Kỷ niệm một mùa hè..........122

 "Ngày cưới em"..........126

 "Sáng Đồng Sổ, tối Đồng Doi"..........131

 Lớp Báo chí khóa 2..........135

 Không chỉ là người vợ..........144

 "Cứ về tòa soạn làm việc đã!"..........151

 Trường của chúng tôi..........155

• NGÒI BÚT SẮT, TRÁI TIM VÀNG ..........161

 Bước ngoặt..........163

 Con đường... niềm tin..........168

 Anh Ba - Sư đoàn trưởng..........174

 Cuộc "Nam tiến" không thành..........177

 Làm phim truyền hình ở Thanh Hóa ..........185

 Học viện Báo chí Fojo (Thụy Điển)..........190

 Chào Oa-sinh-tơn!..........197

 Kể chuyện đi Mỹ..........201

 Cuộc hành quân "độc nhất vô nhị"..........205

 Ghi chép ở Khau Diều..........214

 Trên đồi A1 nhìn thấy Vũng Chùa..........220

 Đi trên con đường huyền thoại..........224

 Chuyến "đò ngang" cuối cùng..........230

• VỚI NGƯỜI, VỚI NGHỀ (Thay phần kết)..........241

 Bỗng tôi lại gặp anh..........243

 Cây bút trên mép trước chiến hào..........249

 Hai câu chuyện nghề..........254

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Chạm vào ký ức”