Cha tôi và những cánh thư Trường Sơn

…Nhưng hai làng chúng tôi, giống như bao làng Việt xưa nay, còn có chung một ‘siêu đặc sản’ khác, đó là ‘lòng yêu nước’. Nó không để bán, không thể mua, chỉ để cống hiến, đặc biệt là khi Tổ quốc lâm nguy. Anh Thám, anh Cẩn và những liệt sĩ Việt Nam khác, là đại diện bất tử của ‘siêu đặc sản’ ấy. Nhờ đó mà chúng ta có độc lập. Nhờ đó mà chúng ta có non sông thống nhất. Nhờ đó mà chúng ta có ngày nay và cả ngày mai. Những lời trong các bức ‘di thư’ của anh Thám, của bao người đã hy sinh, đã chiến đấu ngày trước, cả những ‘lời’ các anh không nói, không viết ra, vẫn luôn phần phật reo cùng lá cờ Tổ quốc mỗi nhà chúng ta treo ngày lễ. Ta sống tồi, ‘tiếng cờ’ như tiếng trách. Ta sống tốt, trung thực ‘tiếng cờ’ khích lệ, biểu dương. Những lời anh Thám để lại cho vợ con, là “gia bảo” của thân nhân anh, cùng với ‘tiếng cờ’, đã trở thành ‘quốc bảo’ Việt Nam. Văn chương hay chưa văn chương, không quan trọng. Bởi quan trọng hơn, là tinh thần, là sinh mạng những người yêu nước. Trước họ, không nói văn chương nữa. Bên cạnh đó, những người Việt yêu nước, có lẽ vì luôn trân trọng khái niệm “nước nhà”, nên ngoài việc sẵn sàng xả thân vì nghĩa cả, họ rất chí tình với vợ con, nội ngoại, xóm giềng, đồng chí, đồng đội, đồng bào. Anh Thám, qua những lời thư, là một người Việt như thế.

Tác giả: Nhiều tác giả

Kích thước: 13 x 19

21,000

Liên hệ ngay

Lời giới thiệu


       Tôi nhận được bản thảo cuốn sách này qua email. Tôi in ngay ra và đọc. Khi biết liệt sĩ Phạm Đình Thám quê ở xã Hoà Xá, Ứng Hoà (Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình cũ - nay là Hà Nội), cách thôn tôi một cánh bãi nhỏ và một dòng sông xinh đẹp - sông Đáy - tôi càng có biệt nhãn.

       Bạn học tôi ở Trường Phổ thông cấp ba Ứng Hoà và Trường Phổ thông cấp ba Mỹ Đức, khoá 1965-1968, có nhiều người quê Hoà Xá. Các bạn mang họ Lưu, họ Phùng… và vẫn còn cùng tôi đi lại, hỏi thăm nhau cho đến tận bây giờ. Hoà Xá lại là làng dệt như làng tôi - Phùng Xá. Có điều Hoà Xá giỏi dệt màn, làng tôi chuyên dệt lụa. Rồi trung tâm dâu tằm Việt Nam chuyển dần vào Lâm Đồng, những cánh đồng dâu ven sông Đáy ngày một nhỏ dần!

       Hoà Xá lại là xã anh hùng, quê hương của "Chiếc gậy Trường Sơn" nổi tiếng.

       Nghĩa là, anh Thám và tôi đã cùng uống nước một dòng sông, cùng hít thở cái "tiểu khí hậu" của vùng làng nghề canh cửi ấy… Mặt khác, cả năm anh em trai tôi cùng đi lính, trong đó, anh hai tôi - Đỗ Trung Cẩn - nhập ngũ trước anh Thám (1965) và hy sinh sau anh Thám (1971), cũng ở "Mặt trận phía Nam".

       Năm 1999, tôi vào Tây Nguyên và đưa được anh tôi về - sau 28 năm anh mất. Còn anh Thám, 43 năm sau khi ra đi, mới được trở về! Bây giờ, cả hai anh đều đã nằm lại mãi bên sông Đáy. Tiếng thoi hai làng vẫn vỗ ngày đêm, dẫu đã thưa thớt. Sản xuất công nghiệp càng phát triển, vải lụa nước ngoài nhập về ngày càng nhiều, những làng nghề thủ công như làng tôi và Hoà Xá, phải bươn bả giỏi lắm mới giữ được nghề - ngoài màn và lụa, giờ phải dệt thêm khăn mặt, khăn tắm, khăn ăn… Con sông Đáy xưa trong xanh là thế, giờ đang hấp hối! Cá và trai - hến sông Đáy xưa nhiều là thế, như của trời cho, bây giờ hiếm ngang "đặc sản".

       Nhưng hai làng chúng tôi, giống như bao làng Việt xưa nay, còn có chung một "siêu đặc sản" khác, đó là "lòng yêu nước". Nó không để bán, không thể mua, chỉ để cống hiến, đặc biệt là khi Tổ quốc lâm nguy. Anh Thám, anh Cẩn và những liệt sĩ Việt Nam khác, là đại diện bất tử của "siêu đặc sản" ấy. Nhờ đó mà chúng ta có độc lập. Nhờ đó mà chúng ta có non sông thống nhất. Nhờ đó mà chúng ta có ngày nay và cả ngày mai. Những lời trong các bức "di thư" của anh Thám, của bao người đã hy sinh, đã chiến đấu ngày trước, cả những "lời" các anh không nói, không viết ra, vẫn luôn phần phật reo cùng lá cờ Tổ quốc mỗi nhà chúng ta treo ngày lễ. Ta sống tồi, "tiếng cờ" như tiếng trách. Ta sống tốt, trung thực "tiếng cờ" khích lệ, biểu dương. Những lời anh Thám để lại cho vợ con, là "gia bảo" của thân nhân anh, cùng với "tiếng cờ", đã trở thành "quốc bảo" Việt Nam. Văn chương hay chưa văn chương, không quan trọng. Bởi quan trọng hơn, là tinh thần, là sinh mạng những người yêu nước. Trước họ, không nói văn chương nữa. Bên cạnh đó, những người Việt yêu nước, có lẽ vì luôn trân trọng khái niệm "nước nhà", nên ngoài việc sẵn sàng xả thân vì nghĩa cả, họ rất chí tình với vợ con, nội ngoại, xóm giềng, đồng chí, đồng đội, đồng bào. Anh Thám, qua những lời thư, là một người Việt như thế.

       *

       Nhưng ta không thể không nói về một nửa còn lại của cuốn sách - những người ở nhà. Từ năm 1964 - 1965, khi Mỹ ném bom miền Bắc, cho đến ngày hai bên ký thoả thuận ngừng bắn từ vĩ tuyến 20 trở ra, cả nước là chiến trường, cả Đông Dương là chiến trường chống Mỹ. Miền Bắc được gọi là "Chiến trường A"; miền Nam là "Chiến trường B" - "Đi B" tức là đi Nam. Lào là "Chiến trường C". Campuchia là "Chiến trường D".

       Chị Liên, vợ liệt sĩ Phạm Đình Thám, theo dòng thời cuộc, đã sống, chiến đấu, lao động và học tập ở cả "Chiến trường A" lẫn "Hậu phương" miền Bắc ngày ấy. Chờ chồng, thờ chồng, chăm sóc cha mẹ già hai bên, tần tảo nuôi dạy các con nên người; lại còn việc nhà máy, việc tự vệ trong bao nhiêu năm được thưởng Huy hiệu Bác Hồ. Số "đầu việc" của chị còn nhiều hơn cả số "đầu việc" của chồng. Những người "Chinh phụ" khác ngày ấy cũng vậy. Riêng chị Liên, cho đến khi "đón chồng" về quê, là 43 năm - 43 năm một bóng trên đường tình duyên!

       Thơ Đường, trong bài Lũng Tây hành, Trần Đào viết: Thề quét Hung Nô chẳng tiếc thân/Bụi Hồ vùi xác mấy ngàn quân/Thương thay, xương táng bờ Vô Định/Vợ còn mơ gặp giữa đêm xuân (Đỗ Trung Lai dịch). Chị Liên và bao người vợ lính ngày ấy, hẳn không ít đêm xuân mơ được gặp chồng!

       Cũng thơ Đường, trước cả Trần Đào, Cáp Gia Vận viết trong Y Châu ca: Đuổi vàng oanh! Đuổi vàng oanh!/Đừng cho nó hót trên cành làm chi/ Oanh làm mộng thiếp tan đi/Lấy gì đưa thiếp bay về Liêu Tây (Đỗ Trung Lai dịch). Liêu Tây là nơi chồng nàng đang đồn trú. Chị Liên và những người vợ lính ngày ấy, đã bao lần phải đuổi vàng oanh!

       Đới Thúc Luân, cũng người đời Đường, viết về một người vợ lính đi hái dâu mà đêm trước nàng vừa mơ được đến gặp chồng ở chiến trường Ngư Dương: Nõn nà tơ liễu bên thành/Ngàn dâu xanh ngắt lá xanh bên đường/ Có nàng giỏ bỏ tay buông/Đêm qua mơ tới Ngư Dương gặp chồng (Đỗ Trung Lai dịch). Chị Liên và bao người vợ lính ngày ấy, có từng giỏ bỏ tay buông?

       Trương Cửu Linh có bài thơ Từ ngày chàng ra đi: Từ buổi chàng xa thiếp/Thiếp mặc khung cửi tàn/Trăng tròn như nỗi nhớ/Từng đêm dần héo mòn (Đỗ Trung Lai dịch).

       Thế mà chị Liên và bao "Chinh phụ" thời chống Pháp, chống Mỹ, đã không mặc khung cửi tàn, trái lại, còn làm việc gấp hai, ba lần - vì nước, vì nhà. Đời các chị còn hơn cả thơ.

       Dân ta là thế, đàn bà Việt là thế. Cho nên dân ca Nam Bộ mới có câu: Chí làm trai say mê (mà) yêu nước/Em dạ nào (em dạ nào) trách móc tình ai...

       Chinh phụ ngâm khúc có đoạn: ... Tình gia thất nào ai chẳng có/Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương/Mẹ già phơ phất mái sương/Con thơ măng sữa, vả đương phù trì/Lòng lão thân buồn khi tựa cửa/Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm/Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam/Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân/Nay một thân nuôi già dạy trẻ/Nỗi quan hoài mang mẻ biết bao...

       Thật chẳng khác gì cảnh vợ lính thời chiến ở ta ngày trước! Mà còn không bằng, vì không thấy nói đến "Ba đảm đang", "Mỗi người làm việc bằng hai", "Dân quân tự vệ"...

       Anh Cẩn tôi hy sinh. Sau hoà bình nhiều năm, tôi mới dám viết “Chị tôi” tặng chị dâu:


       Anh tôi đi mãi không về

       Không ai giải được lời thề chị tôi

       Chị tôi giờ hết duyên rồi

       Bao năm chỉ thấy gió trời trên cao

       Bao năm chỉ những ra vào

       Bao năm sáo chả lần nào sang sông

       Đợi anh chẳng thấy vân mồng

       Thôi còn biết gửi tơ lòng vào ai

       Khi trăng lặn lúc sương mai

       Một mình một ngõ lấy ai chuyện trò

       Vàng xanh như cỏ đầu bờ

       Cỏ còn đợi nước chị chờ gì đâu

       Sông sâu mà giếng cũng sâu

       Cau già đã đốn giàn trầu đã khô

       Rèm thưa trúc sót đung đưa

       Trúc rơi từng đốt người chưa gặp người

       Chị tôi giờ hết duyên rồi

       Gốc hồng cũng chẳng được ngồi hái hoa

       Năm đi qua tháng đi qua

       Chị trôi trong ấy như là trong mơ

       Đời người, thế cũng xong ư

       Đầu xanh mà đã ba thu một ngày

       Nói chi đến chuyện hao gầy

       Chị tôi đã chết từ ngày anh đi.


       "Chết" là "Chết trong lòng". Còn bên ngoài, chị dâu tôi cũng như chị Liên, vẫn phải sống, làm việc, chăm sóc mẹ cha và nuôi nấng con cái cho xứng với người chồng liệt sĩ. Thời còn chiến tranh, bài thơ của tôi chắc không in được!

       Kể cả thơ Tàu, thơ ta ra như vậy, tôi chỉ muốn nói lại rằng, đời các chị còn hơn cả thơ. Nếu lời các anh làm nên "Tiếng cờ" thì các mẹ, các chị là những người may lá cờ ấy. Ngày chống Pháp, Đỗ Nhuận có một câu ca từ rất hay: Người bạn tôi mang áo nhuốm đào/Thành cờ cuốn lên cao. Áo ấy, chính các mẹ, các chị may nên.

       *

       Cuối cùng, xin được cảm ơn những người con của anh Thám và chị Liên! Họ đã cho chúng ta đọc một cuốn sách chân thật, giản dị và rất cảm động.


Hà Nội, tháng 2 năm 2012

       ĐỖ TRUNG LAI      

      

      

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Cha tôi và những cánh thư Trường Sơn”