NGUYỄN TRỌNG HOÀN – “BẾN QUÊ ” – BẾN CỦA NỖI NIỀM

       Không phải ngẫu nhiên nhà thơ Nguyễn Trọng Hoàn chọn nhan đề “Bến quê” để đặt tên cho tác phẩm thơ mới nhất của mình. “Bến quê” không đơn thuần chỉ là cảm xúc đọng lại ở những bến, những quê, những vùng, miền… nơi nhà thơ đã đi qua. Xa hơn, đó là dấu ấn đặc biệt, tình cảm đặc biệt về những khoảng trời có ngày đến, ngày đi… để rồi mỗi người khi đọc, ai cũng thấy “chạm” một thứ niềm riêng tha thiết.

      

Thơ Nguyễn Trọng Hoàn cũng giống như con người anh vậy, ít ồn ào, nhiều lắng đọng, suy tư. Anh luôn tâm niệm: sống hết mình, đam mê cũng hết mình. Vì thế, đọc thơ anh người ta dễ lầm tưởng là thơ viết cho riêng một ai đó. Nhưng không hẳn vậy. Nhân vật “em” là nhân vật không xác định song lại xuất hiện trong nhiều bài thơ bởi “em” là cái cớ để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, tâm trạng. Đến vùng đất nào nhà thơ cũng thấy thiêng liêng, mến thương, gần gũi nên anh gọi đó là quê hương, cũng vì thế cảm xúc tự nhiên cứ tràn về. Đôi khi chỉ là sự chảy trôi của thời gian nhưng sao tiếng lòng anh vẫn dào dạt, hối hả. Tôi rất thích những câu thơ xuôi trong Có riêng Đà Nẵng: “Phấp phỏng những câu thơ, phấp phỏng thời gian thức đập. Đêm biển Bắc Mỹ An bàng hoàng nghe gió hát – khúc trầm hùng của biển và se thắt của thông”.

       Đến với đảo xa giữa mùa biển lặng, anh nhận ra cái khốc liệt của sự sống không phải là những gian khổ hay thiếu thốn bên ngoài nữa mà bạo liệt hơn, dữ dằn hơn đó là thế giới bên trong của những người lính đảo. Biển đảo trong trái tim anh vì thế trở nên vô vàn tin yêu, gợi mở:

       ” Trên bản đồ chỉ là những chấm xanh

       Mà thiêng liêng trong tim gợi nhớ

       Ơi đảo xa những đêm không ngủ

       Đảo quê hương… đảo của ta ơi!”.

       (Gửi tới đảo xa).

       Từ Hà Giang đến chóp mũi Cà Mau có biết bao miền đất, nhưng nếu được dừng chân dù chỉ là một khoảnh khắc thôi thì với Nguyễn Trọng Hoàn, thiên nhiên vẫn ngợp hồn thoáng đạt:

       “Như thực như mơ một khoảnh khắc cực Nam

       Nơi dừng bước mũi bản đồ thân thiết

       Khỏa chân xuống sóng choàng lên lồng ngực

       Tổ quốc thiêng liêng

       Chớp mắt…

       Ngợp trong hồn”.

       (Chớp mắt Cà Mau)

       Đọc “Bến quê”, ta thấy cồn lên nhiều miền cảm xúc mới với nhiều giác độ, nhiều sắc thái tình cảm trong nỗi riêng, niềm chung. Rất dịu dàng trong “Bím tóc ngủ quên”, rất da diết trong “Có riêng Đà nẵng”, nhưng có lúc chỉ là chút ẩn ức, vấn vương trong “Thơ chép ở Phố Vàng”.

       Có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất trong “Bến quê” là chùm thơ ký thác tâm trạng mà nổi lên là hình ảnh của “mẹ”, của “cha”, của “em và con”.

       Với cha – đó là cả một nỗi niềm se sắt, ám ảnh, tê tái : “Mười mấy năm trời ngược xuôi/ Cha gắn bó với Biên Hòa gian khó/ Ngày vĩnh hằng cha rẽ con đường nhỏ/ Phía đồi thông hun hút gió đơn côi… ” (Biên Hòa).

       Với mẹ – là cảm xúc nôn nao, xa xót, vời vợi, đau đáu: “Khói bếp chiều phơ phất Ba mươi/ Cứ ám ảnh và thiêng liêng gợi nhớ/ Vòng tay mẹ và chúng con bé nhỏ/ Mà tháng năm vời vợi khôn nguôi” (Khói bếp chiều Ba mươi).

       Với em và con – là yêu thương, trải nghiệm, trầm lắng bởi đã qua rồi cái thời của “Sắc cỏ tình yêu”; “Huyền cầm” hay “Và em khi ấy” …

       “Biển thức xa những ngày rộng đêm dài

       …

       Từng giây phút bây giờ chóng mặt

       …

       Biển thức xa thuở trốn tìm đuổi bắt

       …

       Con cất lời trái đất cũng bi bô”.

       (Khúc thức Đồ Sơn).

       Điều kỳ diệu của thơ ca đôi khi nằm ở những khoảng trống vô thanh, vô ảnh mà chữ nghĩa không thể lấp đầy. Ba dấu chấm lửng tách dòng đọng vào thinh không như sự lặng im, dồn nén, khắc khoải, nghẹn ngào. Biển đêm đồng cảm với lòng người hay nỗi mất ngủ của lòng người tựa biển? Câu thơ mất đi một chút rõ ràng để thêm rất nhiều suy tưởng.

       Có một điều rất riêng trong các sáng tác của Nguyễn Trọng Hoàn đó là thiên hướng hoài niệm. Hoài niệm thời gian, hoài niệm quá vãng để rồi những hồi ức về mẹ, về quê trong đó có cả tuổi thơ lấm láp luôn trở đi trở lại đến mức thành ám ảnh: “Mông lung nhiều chiều tâm tưởng/ Nhói từng đường nét làng quê/ thấp thoáng cuộc đời – mảnh ruộng/ hồn dâng cay mắt bốn bề” (Bến quê). Người đọc cũng nhận ra điều đó bởi chính nét trầm tư, trĩu nặng nơi anh:

       “Em có nghe tiếng bải hoải âm thầm

       biển mịt mùng đêm vắng?

       Ẩm ướt gió,

       sóng nghiêng từng giọt mặn

       ngấn quầng mắt ban mai”.

       (Khúc thức Đồ Sơn).

       Tuy nhiên sự trầm tư, trĩu nặng ấy không hề đơn giản. Đôi khi ta thấy ở đó có cả nỗi thảng thốt và cơn cớ ào ạt: “Rất nhiều âm thanh nhòe sương/ rất nhiều nỗi niềm đứt nối/ gió vô tâm gió cũng không chịu nổi/ khi nhận ra mình bơ vơ” (Nghe đêm). Có lúc cái lý trí trong anh”thét vang lời tự khúc” nhưng rồi va đập ngay vì bị cảm xúc lấn át, xô đẩy. Nhà thơ không chấp nhận lối sống ảo giác mờ nhạt (“Khoảnh khắc ngập ngừng có ý nghĩa gì không?”) nên luôn khao khát, khao khát hết mình để nóng, để cháy, cho dù phải tan chảy: “Anh không đủ yếu mềm để đắm chìm chút nữa, ánh mắt dịu dàng ăm ắp bão giông ơi!” (Trung du tạm biệt).

       Và:

       “Cát với cát, với lòng tôi cháy bỏng

       biển sinh thành

       cát trắng

       sóng oằn lên”.

       (Qua một vùng cát trắng).

       Thơ Nguyễn Trọng Hoàn tinh tế, nhạy cảm và có sức lan tỏa lớn. Với giọng thơ tâm tình, ngọt ngào và cách dùng từ chắt lọc, gợi cảm, thơ anh đạt đến độ “chín” về sự lắng và sâu. Trước thơ anh, tôi có cảm giác như mình bị tan loãng, mọi ngôn từ đều trở nên nghèo nàn, cạn kiệt, cằn cỗi. Tôi biết, tôi sẽ không thể nào tìm ra được thứ ngôn từ khả dĩ để gọi tên, để diễn đạt hết được những điều kỳ diệu đang muốn trào dâng trước mắt. Xin cảm ơn nhà thơ. Mong anh mãi có nhiều cảm hứng nghệ thuật để đóng góp cho đời.

       LỤC BÌNH

      

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *