Chuyện tình thời quân ngũ

Trích đoạn

Chuyện tình dưới đáy ba lô

Nguyễn Văn Tài mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải ở với cậu mợ đến khi học hết lớp 6. Vào bộ đội, Tài là chiến sĩ gan dạ, những năm 1966-1967, anh là chiến sĩ trinh sát Đại đội 837 pháo cao xạ trực thuộc Trung đoàn, đóng quân ở Hải Phòng. Mỗi lần máy bay Mỹ vào ném bom, bao giờ Tài cũng là người phát hiện đầu tiên. Tuy mới quen nhau, nhưng ở Tài có cái gì làm tôi quý mến; tác phong nhanh nhẹn, giọng nói chân tình, đặc biệt có đôi mắt sáng và rất thông minh. Tôi coi Tài như em ruột của mình. Thỉnh thoảng gặp nhau chúng tôi thường dành thời gian tâm sự. Tôi nhắc Tài luôn cố gắng phấn đấu để trở thành đảng viên.

Sau Tết Mậu Thân 1968, Đại đội 837 được chọn đi tăng cường cho mặt trận phía Nam. Tuy xa nhau nhưng tôi và Tài vẫn liên lạc bằng thư đều đặn. Trong một lá thư Tài cho tôi biết, đơn vị em đang đứng chân chiến đấu bảo vệ tuyến đường Trường Sơn, đoạn từ Khe Ve đến Cổng Trời. Em đã thực hiện lời tôi dặn là được kết nạp vào Đảng, sau một trận chiến đấu quyết liệt với không quân Mỹ.

Bẵng đi một thời gian tôi không nhận được thư Tài, rồi được tin em hy sinh vào một ngày tháng Chạp năm 1970 tại trận địa Bãi Dinh. Nhớ đến Tài là tim tôi quặn thắt vì thương xót em – người chiến sĩ ra đi giữa tuổi đời đẹp nhất.

Cuối năm 1971, trong một chuyến công tác vào Trường Sơn, tôi tìm thăm Đại đội 837 và gặp Chính trị viên Lê Hoài. Anh đã kể về sự dũng cảm hy sinh của Tài: Hôm ấy, theo tay chỉ của Tài, Đại đội sớm bắt mục tiêu, tung lưới lửa, bắn rơi một chiếc AD-6. Những chiếc còn lại lồng lộn lao xuống ném bom. Hỏa lực mạnh của đơn vị làm cho những tên phi công hoảng loạn, ném bom chệch ra ngoài. Chỉ một quả duy nhất trúng vào trận địa, Tài bị mảnh bom văng vào đầu khi đang đứng trên đài quan sát. Chiếc ống nhòm đẫm máu người Tiểu đội trưởng trinh sát, em đã gục xuống trong vòng tay đồng đội.

Tác giả: Tô Kiều Thẩm

Kích thước: 13 x 19

37,000

Liên hệ ngay

Trích đoạn

Chuyện tình dưới đáy ba lô


Nguyễn Văn Tài mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải ở với cậu mợ đến khi học hết lớp 6. Vào bộ đội, Tài là chiến sĩ gan dạ, những năm 1966-1967, anh là chiến sĩ trinh sát Đại đội 837 pháo cao xạ trực thuộc Trung đoàn, đóng quân ở Hải Phòng. Mỗi lần máy bay Mỹ vào ném bom, bao giờ Tài cũng là người phát hiện đầu tiên. Tuy mới quen nhau, nhưng ở Tài có cái gì làm tôi quý mến; tác phong nhanh nhẹn, giọng nói chân tình, đặc biệt có đôi mắt sáng và rất thông minh. Tôi coi Tài như em ruột của mình. Thỉnh thoảng gặp nhau chúng tôi thường dành thời gian tâm sự. Tôi nhắc Tài luôn cố gắng phấn đấu để trở thành đảng viên.

Sau Tết Mậu Thân 1968, Đại đội 837 được chọn đi tăng cường cho mặt trận phía Nam. Tuy xa nhau nhưng tôi và Tài vẫn liên lạc bằng thư đều đặn. Trong một lá thư Tài cho tôi biết, đơn vị em đang đứng chân chiến đấu bảo vệ tuyến đường Trường Sơn, đoạn từ Khe Ve đến Cổng Trời. Em đã thực hiện lời tôi dặn là được kết nạp vào Đảng, sau một trận chiến đấu quyết liệt với không quân Mỹ.

Bẵng đi một thời gian tôi không nhận được thư Tài, rồi được tin em hy sinh vào một ngày tháng Chạp năm 1970 tại trận địa Bãi Dinh. Nhớ đến Tài là tim tôi quặn thắt vì thương xót em - người chiến sĩ ra đi giữa tuổi đời đẹp nhất.

Cuối năm 1971, trong một chuyến công tác vào Trường Sơn, tôi tìm thăm Đại đội 837 và gặp Chính trị viên Lê Hoài. Anh đã kể về sự dũng cảm hy sinh của Tài: Hôm ấy, theo tay chỉ của Tài, Đại đội sớm bắt mục tiêu, tung lưới lửa, bắn rơi một chiếc AD-6. Những chiếc còn lại lồng lộn lao xuống ném bom. Hỏa lực mạnh của đơn vị làm cho những tên phi công hoảng loạn, ném bom chệch ra ngoài. Chỉ một quả duy nhất trúng vào trận địa, Tài bị mảnh bom văng vào đầu khi đang đứng trên đài quan sát. Chiếc ống nhòm đẫm máu người Tiểu đội trưởng trinh sát, em đã gục xuống trong vòng tay đồng đội.

Sau khi hoàn tất thủ tục mai táng, đơn vị tiến hành kiểm kê di vật của liệt sĩ. Trong ba lô của Tài có hai bộ quần áo, chăn màn, tấm áo mưa, chiếc võng bạt với một chiếc hộp thiếc đựng bàn chải, thuốc đánh răng và một cái lược làm bằng mảnh xác máy bay Mỹ. Tìm kỹ dưới đáy ba lô còn thấy một gói nhỏ bọc bằng ni lông cẩn thận. Trong đó những lá thư của người thân xếp trên cùng. Phía dưới là một cuốn sổ tay chép những bài thơ chọn lọc của Tố Hữu, Giang Nam, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa... Nửa sau cuốn sổ là những trang nhật ký, ghi chép ngắt quãng. Chắc vì Tài không có thời gian để viết. Dưới cuốn sổ tay là năm chiếc phong bì đề tên người gửi "Em gái phương xa", được gói trong một chiếc khăn, thêu dòng chữ "Yêu nhau mãi mãi" cùng đôi chim bồ câu tung cánh bay.

Qua những trang nhật ký ít ỏi và các lá thư anh em đơn vị "trộm đọc", hóa ra Tài có người yêu từ lúc còn ở Hải Phòng. Cô tên là Thu Hương, dân quân xã T. huyện Thủy Nguyên. Họ quen nhau trong những lần dân quân xã tới giúp đại đội đào đắp trận địa và phối hợp chiến đấu. Hai người đã trao tặng phẩm cho nhau, của Tài là một chiếc bút máy có khắc hai chữ T và H lồng vào nhau, còn của Hương là chiếc khăn thêu. Không hiểu sao mà không có tấm ảnh nào của Hương cả. Trong cái đêm đơn vị lên đường đi B, sau khi chia tay với Tài, chắc rằng Thu Hương trở về nhà không khỏi xúc động một mình. Trong nỗi nhớ người yêu, Hương còn mong gì hơn là mau đến ngày chiến thắng, để gặp lại Tài trên thành phố Hoa phượng đỏ. Trong thư Thu Hương, cuối mỗi lá thư thường có những câu cháy bỏng yêu thương: "Đừng quên em nghe anh" hoặc "ở phương trời xa, em yêu anh và nhớ anh vô cùng", "Gửi đến anh nghìn vạn cái hôn"... Lúc còn sống, mỗi lần nhận thư "Em gái phương xa", Tài thường trả lời qua quýt: "Thư bạn gái ở quê ấy mà". Cứ như vậy và mối tình thầm kín ấy chỉ được "tiết lộ" sau khi Tài đã hy sinh.

Chúng tôi đến thăm khu chôn cất các liệt sĩ ở một ngọn đồi ven suối. Không có hương, tôi đặt lên mộ các anh những nhánh hoa rừng. Quỳ xuống trước mộ Tài, hình dung lại khuôn mặt, đôi mắt và giọng nói của em, nghĩ đến câu chuyện tình dang dở, lòng tôi se lại, nước mắt nóng hổi bên khóe mắt...

Bây giờ, mỗi khi nhìn thấy những chiếc xe hoa, những đôi trai gái hạnh phúc bên nhau trong ngày cưới, tôi lại nhớ đến tình yêu của Tài và Thu Hương. Sự hy sinh của các em đã làm cho cây đời nở hoa kết trái.


- Đôi lời thưa trước ...... 5

- Em bắt đền anh đấy ...... 7

- Thúy, tình yêu của tôi ...... 10

- Tôi đã mang mối tình ngày ấy ...... 15

- Thư "tọa độ" ...... 19

- Chuyện tình dưới đáy ba lô ...... 22

- Những lá thư thời chiến ...... 26

- Hộp dầu xoa ...... 29

- Chiếc vòng bạc ...... 32

- Mo khoai xéo ...... 36

- Lỡ hẹn ...... 38

- Chuyện bất ngờ ...... 42

- Bến sông quê ...... 48

- Cô gái năm xưa ...... 50

- Hạnh phúc của tôi ...... 54

- Nước vối quê nhà ...... 57

- Bội ước ...... 60

- Chiếc khăn kỷ niệm ...... 65

- Ba thế hệ một mối tình quân dân ...... 68

- Những mùa hoa cỏ tranh ...... 72

- Đọc thư em trong chiến hào ...... 76

- Nên duyên từ Điện Biên ...... 80

- Từ miếng trầu mời ...... 84

- Mối tình bên cánh sóng ...... 87

- Hằng ơi, em ở đâu? ...... 91

- Thời con gái ngây thơ ...... 95

- Ơi, Huế của tôi ...... 98

- Mối tình đầu ...... 103

- Má tôi ở ven sông Đồng Nai ...... 107

- Đại đội trưởng của tôi ...... 113

- Nhiệm vụ hy hữu ...... 117

- Khoảnh khắc đầu tiên chúng tôi vào Sài Gòn ...... 122

- Nỗi niềm hơn bốn mươi năm ...... 126

- Một nhà ba người là Anh hùng ...... 130

- Bộ đội Giải phóng hiền khô ...... 136

- Anh vẽ tranh bằng cây bút mái tóc em ...... 140

- Gửi người năm ấy ...... 143

- Một thời sống và yêu ...... 147

- Chúng em gặp nhau nơi chín suối ...... 151

- Tôi và Nhân ...... 154

- Tình yêu và nghị lực ...... 158

- Tình yêu qua những bức thư ...... 162

- Chuyện tình của Thiếu tướng Đặc công ...... 166

- Hai bài thơ đẹp ...... 171

- Năm tháng và tình yêu ...... 173

- Vợ chồng may rủi là duyên ...... 176

- Nhân vật trong bài thơ "Núi Đôi" ...... 178

- Thương nhớ ở ai ...... 182

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Chuyện tình thời quân ngũ”