Trích đoạn
Chương I
Cứ vào dịp tháng ba âm lịch, đứng trên bờ đê sông Cái nhìn xuống phía nam, một dải đất xanh mờ hiện ra trước mắt. Nổi bật trên nền xanh mờ ấy là những chùm hoa gạo đỏ ối của cây gạo cổ thụ, cao khoảng trên ba mươi thước tây.
Nơi ấy chính là làng Cò Quay. Nghe người xưa kể lại, thời trước làng nhiều cò lắm, nhiều đến mức đi đường chỉ cần quờ tay một cái, là đã tóm được vài con. Chiều chiều sau một ngày đi kiếm ăn, chúng kéo nhau về tổ ở các lũy tre quanh làng. Cây tre nào cũng bị đổ ngang, không đứng thẳng lên được. Chúng tranh nhau chỗ đậu, chỗ làm tổ, nhảy lên, dùng cánh dùng mỏ đánh nhau kêu quạc, quạc.
Một số người dân ở làng lợi dụng vào nguồn sản vật tự nhiên dồi dào ấy, hàng tối đi bắt cò về làm thịt, rồi đưa lên giàn than hồng nướng. Hôm sau đem ra chợ bán, lâu dần cái tên chợ Cò Quay, rồi làng Cò Quay, được coi là tên gọi chính thức của làng.
Làng Cò Quay có con sông Đào chảy qua, đưa nước phù sa từ sông Cái về, tưới cho đồng ruộng, bởi vậy quanh năm cây trái tốt tươi. Những trái bưởi tròn xoe, vàng ươm, lủng lẳng treo trên cây. Vào tháng Giêng, tháng Chạp nó tỏa ra vị hương thơm dìu dịu, một vị hương đặc trưng cho cả vùng xứ Đoài. Những quả cam chín đỏ hằn rõ múi ra ngoài, ăn vào ngọt mát. Loại cam này được dùng để dâng lên Vua, cho nên dân làng gọi là cam Tiến Vua hoặc cam đường, cam giấy. Những vườn hồng xiêm rộng vài ba mẫu, quả to bằng nắm đấm người lớn. Khi quả già, trảy xuống, cọ rửa từng quả, đem ra hong gió cho ráo nước, rồi cho vào chum hoặc vại giấm. Loại hồng này cũng là một đặc sản quý của làng. Bên cạnh các vườn bưởi, cam, hồng xiêm là những trại nhãn, trại vải rộng tới vài chục mẫu. Hàng năm cho ra thị trường vài ba chục tấn long nhãn, nhãn quà.
Nghề sản xuất chính của dân làng là trồng hoa huệ - một thứ hoa trắng tinh khiết, hương thơm rất lâu. Các diện tích còn lại trồng lúa, ngô, khoai, rau, đậu đỗ...
Phía nam làng Cò Quay có quốc lộ. Hằng ngày những gánh rau, hoa quả nườm nượp theo nhau ra chợ huyện, chợ tỉnh. Họ rủ nhau đi từ lúc gà gáy. Trên vai người nào người nấy những chiếc đòn gánh bị vít cong bởi hai sọt hàng nặng trĩu. Chính vì vậy làng Cò Quay trở thành một làng trù phú, giàu có nhất nhì trong vùng.
Khi những chùm hoa nở rộ, đỏ rực trên cây gạo cổ thụ đầu đình, cũng là lúc dân làng mở hội. Sáu đội thuyền của sáu phe giáp luyện tập cả tháng để chuẩn bị thi đấu. Dân quanh vùng lũ lượt kéo nhau đến xem. Ngoài đua thuyền còn có đấu vật, cờ người, những đêm hát ả đào, diễn chèo cổ, sân đình chật cứng người xem.
Làng mở hội đúng vào lúc nông nhàn, vì thế nhà nào cũng làm bánh chưng, bánh giầy, bánh gai, mổ lợn, gà, nhiều nhà rủ nhau mổ trâu, bò. Tiếng giã giò thùm thụp suốt ngày. Họ chuẩn bị lượng thực phẩm ăn trong ba đến năm ngày, vì vậy làng sinh ra lệ cấm lửa. Trong ba ngày lễ chính, nhà nào nổi lửa là bị làng phạt vạ.
Người dân làng Cò Quay những tưởng sẽ mãi mãi được sống trong cảnh thanh bình yên vui. Nhưng than ôi! Bỗng một chiều kia, giặc Pháp đưa quân sang xâm lược. Giặc Nhật nhảy vào hất cẳng Pháp. Mặt trận Việt Minh do Cụ Hồ lãnh đạo, hô hào nhân dân vùng lên đấu tranh, giành chính quyền bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thực dân Pháp quay trở lại, chiến tranh nổ ra và kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Biết bao người con làng Cò Quay ra đi mà không trở về. Họ đã hiến dâng tuổi xuân của mình cho đất nước.
Cuối năm một chín năm chín, làng Cò Quay vận động nhân dân vào hợp tác xã, làm ăn tập thể. Lúc đầu chỉ có mấy gia đình cố nông xin vào, bởi họ tự cho mình là lực lượng tiên phong, phải gương mẫu đi đầu, nhưng lý do cơ bản từ xưa đến nay, họ toàn sống dựa vào người khác. Phần lớn dân chưa muốn vào, vì họ chưa tin vào lề lối làm ăn này. Nhưng lý do cơ bản là họ còn đắn đo suy tính, bởi những miếng ruộng, mảnh vườn, con trâu, con bò là tài sản quý giá nhất, là máu, là thịt của họ. Nó đã nuôi sống bao thế hệ gia đình họ, nó làm cho họ sung túc, giàu có. Vậy thì dễ gì họ lại bỏ ra cho người khác quản lý, hưởng lợi. Do vậy các cán bộ phải đi vận động từng nhà. Đến cuối năm 1960, các hộ này cuối cùng cũng phải xin vào nốt.
Ban đầu xã viên đi làm có trống giong cờ mở, không khí thật sôi động. Các em học sinh cấp một, cấp hai cũng góp phần rất lớn vào công cuộc vận động. Hôm nay là thứ năm, thầy giáo Nam - hiệu trưởng trường cấp một xã Đoài đến nhà Thăng - Chi đội trưởng Đội Thiếu niên tiền phong làm chiếc loa, để chuẩn bị cho ngày đi vận động. Chiếc loa hai thầy trò làm có đường kính hai mươi phân cứ thon dần, thon dần, về cuối chỉ to bằng miệng chén uống nước và được gắn một bìa giấy cong ngược trở lại, để hứng âm thanh phát ra.
Thầy mượn được chiếc loa sắt, làm cốt bên trong, quấn các tờ báo đã được Thăng phết bún. Hai thầy trò cắm cúi làm trong một tiếng, chiếc loa đã xong, thầy đưa lên miệng:
- A lô, a lô, a lô. Cầm vàng còn sợ vàng rơi, vào hợp tác xã đời đời ấm no.
- Giọng ồm ồm dở ngâm dở tuồng của thầy phát ra, nghe đến tức cười.





Reviews
There are no reviews yet.