TRÍCH ĐOẠN
Ngồi trên nóc chiếc xe thiết giáp K63, dựa lưng vào khẩu 12ly7, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn xe tăng 203 Phạm Ngọc Bảng thảnh thơi dõi mắt ra phía vịnh Cam Ranh. Chiều đang xuống, mặt trời đã khuất sau rặng núi phía tây làm mặt biển chuyển sang màu tím sẫm thật là huyền bí. Những làn gió biển mát rượi mơn man trên mặt, trên tóc như xua đi hết mọi mệt nhọc, lo toan làm Bảng thấy thật dễ chịu. Anh duỗi chân cố tận hưởng chút nghỉ ngơi ngắn ngủi vì biết rằng vẫn còn nhiều việc phía trước. Đã gần một tháng nay, tiểu đoàn anh hành quân rồi tác chiến liên miên. Hết đánh Huế, đánh chiếm đèo Hải Vân, tham gia giải phóng Đà Nẵng rồi cơ động để tối hôm nay có mặt ở bên bờ vịnh Cam Ranh lộng gió này. Và vừa mới đây thôi, anh đã cử trợ lý tham mưu Bùi Văn Định chỉ huy chiếc xe 046 đi trinh sát nắm tình hình địch cho trận đánh có thể xảy ra vào nay mai thôi. Là người trong cuộc nhưng lắm lúc Bảng tưởng như mình đang mơ bởi dẫu có giàu trí tưởng tượng đến đâu anh cũng không thể nào hình dung ra tình hình lại diễn biến nhanh đến vậy.
Cách đây đúng ba năm, ngày 15 tháng 4 năm 1972, tại một nông trường phía tây tỉnh Quảng Bình, anh đang là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 244 của Trung đoàn 202 thì nhận nhiệm vụ đưa Đại đội xe tăng 3 hành quân độc lập vào A Lưới để cùng với Đại đội tăng 4 của Trung đoàn 203 làm mũi vu hồi vào sau lưng Huế. Hồi đó, Bảng mới từ Tỉnh đội Hà Nam Ninh chuyển về Binh chủng Tăng Thiết giáp nên hiểu biết về xe tăng với thiết giáp còn rất lơ mơ. Vì vậy, khi nhận nhiệm vụ này anh rất lo, thậm chí còn sợ nữa. Không sợ vì phải đi chiến trường mà chỉ lo không hoàn thành nhiệm vụ. Toàn quyền chỉ huy một đại đội xe tăng "đơn thương, độc mã" đi vào một chiến trường xa lạ mà trong tay chỉ có mỗi tấm bản đồ đâu phải chuyện nhỏ. Cũng may cho anh, ban chỉ huy Đại đội 3 hồi đó đều là những tay "cứng cựa", có thâm niên công tác tại binh chủng và họ đã giúp đỡ anh rất nhiều. Đó là Đại đội trưởng Lê Minh Đô, dân Thường Tín, Hà Tây. Người ta bảo "nhất lé, nhì lùn" thì riêng tay này "vừa lé lại vừa lùn". Có lẽ vì vậy mà con người này đầy mưu mẹo, tiểu xảo quản lý, rèn luyện bộ đội. Chả thế mà ở Binh chủng Tăng Thiết giáp ngày ấy đã lan truyền về huyền thoại "chế độ ông Đô" hết sức ngặt nghèo và chặt chẽ. Nhưng nói gì thì nói, chính cái sự chặt chẽ ấy đã làm cho những người lính của Đại đội 3 nổi tiếng là huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm. Điều này chính bản thân Bảng đã kiểm chứng được trong những năm qua. Đó là chính trị viên Nguyễn Thế Cương, quê Hiệp Hòa, Hà Bắc, người đen chắc như một nông dân chính hiệu, tuy "mặt sắt đen sì" như Bao Công nhưng chân tình, chắc chắn và rất thương lính. Anh xứng đáng được coi là hạt nhân đoàn kết trong đơn vị. Đó là Đại đội phó kỹ thuật Nguyễn Thanh Bình, người Bần, Yên Nhân, Hưng Yên, nhỏ nhắn, trắng trẻo như một thư sinh nhưng trưởng thành từ một lái xe lên nên hiểu biết rất sâu sắc về kỹ thuật. Chính trị viên phó Phạm Ngọc Chu trẻ trung, năng nổ, làm việc gì cũng xốc vác, hăng hái. Cả bốn người, mỗi người một vẻ nhưng đều nắm rất vững chuyên môn của mình. Chính họ đã củng cố niềm tin cho Bảng và đã giúp anh một cách đắc lực trong cái nhiệm vụ khó khăn ấy.
Cũng cần phải nói thêm, không chỉ có đội ngũ cán bộ vững vàng mà Đại đội 3 còn là một tập thể có chất lượng cao, đã được huấn luyện, diễn tập rất kỹ càng từ ngày còn ở Vĩnh Phú. Các cán bộ trung đội như Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Phùng, Trần Quốc Quang, Nguyễn Quang Hòa đều được đào tạo cơ bản ở Đoàn 10 và có năng lực quản lý bộ đội tương đối tốt. Kỹ thuật viên Đỗ Xuân Bốn trưởng thành từ lái xe lên, ngoài kinh nghiệm sử dụng xe lại được tham gia một lớp huấn luyện về sửa chữa ở trung đoàn nên tay nghề khá vững, cùng với Đại đội phó Nguyễn Thanh Bình đủ sức độc lập giải quyết các sự cố kỹ thuật của đại đội. Còn đội ngũ thành viên thì có lẽ đó là ước mơ của tất cả các cán bộ chỉ huy phân đội xe tăng hồi ấy. Nhiều người trong số họ là sinh viên đại học hoặc các trường trung cấp nhập ngũ vào binh chủng, được huấn luyện cơ bản, lại được rèn luyện trong một môi trường hết sức nghiêm khắc dưới "chế độ ông Đô" nên người nào cũng nắm vững chức trách, nhiệm vụ của mình và có ý thức tổ chức kỷ luật rất nghiêm. Những cái tên như trưởng xe Nguyễn Danh Vĩnh, Nguyễn Thanh Xuân, lái xe Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Cao Tần, pháo thủ Trần Văn Song, Bùi Thanh Hải… đã từng nổi tiếng trong các cuộc hội thao, hội thi do Binh chủng hay trung đoàn tổ chức. Chỉ có số pháo hai và lái phụ lính Hải Hưng nhập ngũ tháng 12 năm 1971 là còn hơi "non", song cũng còn hơn các đơn vị khác nhiều. Có lẽ vì thế nên khi cần một đại đội đi độc lập vào chiến trường xa, các thủ trưởng binh chủng đã nhớ ngay đến Đại đội 3.
Nói cho công bằng, cái ý định đưa hai đại đội xe tăng vào thung lũng A Sầu - A Lưới để đánh xuống Huế là một ý đồ hết sức táo bạo song cũng đầy lãng mạn của các nhà cầm quân hồi đó. Quả thật, nếu như quân địch đang tối mắt tối mũi chống đỡ sự tiến công chính diện từ phía bắc vào mà có một mũi vu hồi thọc vào sườn thì chúng chết là cái chắc. Tuy nhiên, chính những người ra lệnh lại không nắm được một vấn đề thiết yếu khi sử dụng xe tăng là phải có đường cho nó cơ động. Mà đường từ A Lưới xuống Huế lúc đó chỉ duy nhất có con đường 12 vốn là con đường đã bị bỏ hoang từ lâu, không ai duy tu, chăm sóc, lại bị mưa rừng và bom đạn phá hủy hàng ngày nên đường 12 trở thành con đường "chết". Thế là Đại đội 4 của Bùi Quang Thận thì nằm chết gí ở hai bên sông Bồ trong thế "tiến thoái lưỡng nan". Tiến cũng không được, mà lùi cũng chẳng xong. May mà địch nó không đủ sức "nống" ra, chứ nếu nó mà ra thì chỉ có cách bỏ xe đánh bộ.
...



Reviews
There are no reviews yet.