Lời giới thiệu
Trong mỗi cuộc đời chúng ta, lượng ký ức lưu giữ ở các giai đoạn không phải tỷ lệ thuận với thời gian từng trải. Có giai đoạn không dài về thời gian, nhưng ký ức bề bộn, bởi ấn tượng mạnh của sự kiện lịch sử khách quan và sự quan tâm, nhập cuộc của cá nhân vào hoàn cảnh lịch sử ấy. Với ông Nguyễn Quang Liễn, đời lính là một giai đoạn như thế.
Nguyễn Quang Liễn sinh năm 1942 tại Đức Hậu, Đồ Sơn, Hải Phòng. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông tham gia hoạt động văn hóa thông tin xã. Đó là thời kỳ lòng yêu thơ ca từ thuở học trò được thực thi, bằng việc sáng tác phục vụ địa phương. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ, ký ức bắt đầu lưu giữ những kỷ niệm không bao giờ quên.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta hoàn toàn thắng lợi, Bắc - Nam thống nhất, nhiều bạn bè quốc tế chúc mừng ta, nhưng cũng có người không thể lý giải được tại sao một nước nhỏ, yếu, lạc hậu lại có thể đánh thắng cường quốc số một thế giới. Chỉ đọc nhật ký của những người lính chúng ta ngày ấy ra trận, cũng có thể giải thích được một phần thắc mắc này. Trước hết là sức mạnh tinh thần, luôn vượt qua mọi thử thách để hoàn thành nhiệm vụ và tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Có người thắc mắc: Tại sao Bộ đội Cụ Hồ của Việt Nam bé nhỏ, ăn uống thiếu thốn, lại có thể mang nặng đi bộ vượt Trường Sơn có khi đến nửa năm trời, vượt qua bao bom đạn và địa hình hiểm trở khắc nghiệt? Câu trả lời một phần nằm trong tác phẩm này. Tập sách không có tham vọng đưa tới bạn đọc nghệ thuật thơ, kỹ năng thơ… nhiều khi chỉ là câu văn vần, nhưng chính nhờ những câu văn vần ấy mà cuộc sống vật chất và tâm hồn người lính được lưu giữ.
Phần đầu cuốn sách, tác giả trình bạn đọc các bài “Rèn luyện - Lên đỉnh Gió” và “Leo đèo Bún” - thật thà và mộc mạc từ đầu để nói chuyện tập luyện trước khi đi B, tức vào Nam chiến đấu. Các bạn trẻ bây giờ mới nghe những đầu đề như thế này dễ nghĩ ngay đến những “tour” du lịch, những chuyến “phượt”… nhưng ngày ấy với người tân binh thì đây là một nội dung tập luyện quan trọng: mang nặng, đi xa, leo dốc đèo… Biết bao gian khổ, cực nhọc; biết bao mồ hôi đã đổ xuống, nhưng người lính không hề nói tới chuyện đó, coi như một sự tất yếu. Ta hãy cùng nghe tác giả nói chuyện “Leo đèo Bún”:
Đường lên đèo Bún vòng vo
Đường như dây quấn quanh co, xoay vần
Dẻo queo đất dính bết chân
Chiều đông mà đã mưa xuân sớm về
Đường dài sợi bún lê thê
Ba lô mang đá nặng về nước non…
(Leo đèo Bún, Yên Tử, tháng 12-1966)
Bất chợt có một câu thơ hay: “Ba lô mang đá nặng về nước non”! Chắc có bạn trẻ thắc mắc: Tại sao lại mang đá? Tập mà! Để chuẩn bị cho cuộc hành quân vào Nam xa dằng dặc, mà nói chung là đi bộ, ngay khi mới nhập ngũ, tân binh phải luyện tập trên đất Bắc, bằng cách cho đá hoặc gạch… vào ba lô mà tập mang hành quân xa. Ở đây đơn vị của tác giả tập thơ này không chỉ hành quân xa, mà còn leo ngược lên đèo Gió, đèo Bún ở Yên Tử!
Sau những tháng rèn luyện trên đất Bắc, đoàn tân binh hành quân vào Nam. Thật may mắn, đơn vị này lại được hành quân qua quê Bác, và anh lính trẻ Nguyễn Quang Liễn lại có những dòng lục bát:
Mái tranh giản dị như Người
Ba gian nho nhỏ, Bác ơi nặng tình
Đây phòng của cụ thân sinh
Giường tre, ghế trúc đượm tình quê hương
Đây nơi Bác thức canh trường
Tuổi thơ sớm nặng tình thương giống nòi…
(Đường hành quân - Hẹn ngày thống nhất con về - tháng 2-1967)
Lạc quan, coi thường gian khổ, cố tìm thuận lợi giữa khó khăn, chắt lọc ngọt ngào từ cay đắng… là đặc điểm nổi bật về tinh thần của người lính thời chống Mỹ. Thực tế thời ấy có nhiều tuần liền đơn vị không có gạo, phải ăn củ mài, củ sắn, rau rừng trừ bữa. Người lính lạc quan không nói cái gian khổ khi phải ăn củ rừng, mà nói niềm vui đón gạo sau những ngày gian khổ ấy:
Ba mươi Tết mừng vui chia lon gạo
Rạo rực lòng vui: Có cháo đón xuân về!
Anh em cười nói hả hê
Đã hơn ba tháng chưa hề có cơm…
(Gặp bạn ở Kon Tum - tháng 4-1967)
Có niềm vui của người lính ở chiến trường mà hậu phương rơi nước mắt: Rạo rực lòng vui: Có cháo đón xuân về!
Vượt Trường Sơn rồi trực tiếp đánh trận, dù thời gian không thật lâu, nhưng người lính Nguyễn Quang Liễn đã trải đủ cung bậc của chiến trường như hiệp đồng chiến đấu, chịu bom đạn địch, nhịn đói, nhịn khát… và chôn cất đồng đội hy sinh. Ở chiến trường, bom giặc trút xuống bất ngờ, có những cái chết đến với người lính chúng ta cũng bất ngờ, có người hy sinh khi nào không ai biết như người đồng hương của tác giả:
Nơi chiến địa bốn bề lửa khói
Bom Na-pan, rừng cháy bừng bừng
Bom chụp, cắt ngang ngọn cây rừng
Bom tạ, tấn cày tung sỏi đất…
Anh hy sinh từ đêm rồi, lạnh ngắt
Tôi chọn cho anh chỗ giữa lưng đồi
Lòng suối Ché đầy vơi nước mắt
Ba anh em, cuốc chim, xẻng xúc
Đồi đá dưới mưa bom… chỉ cuốc được gọi là
Đặt anh nằm! Ôi sương gió phôi pha…
(Vĩnh biệt bạn đồng hương! - Buôn Ma Rú, Phú Yên, ngày 15-10-1967)
Anh mất người bạn đồng hương từ hôm đó, và vì điều kiện chiến trường đào huyệt chôn bạn không được sâu là nỗi ăn năn theo suốt cuộc đời anh.
Trận chiến đấu tiếp theo, anh không hy sinh nhưng bị địch bắt cùng một số đồng đội và bị chúng đưa về giam ở nhà tù Phú Quốc. Cuộc đời lính chiến của anh phải dừng lại từ đây, hay nói chính xác là rẽ sang một hướng mới, và phẩm chất người lính Cụ Hồ đã theo anh suốt năm năm ròng (1968 - 1973) trong nhà tù nổi tiếng nghiệt ngã này. Và, anh đã dùng thể văn vần này ghi lại bao cực hình mà người tù phải chịu đựng:
Phú Quốc nắng trưa bỏng cát đồi
Lột áo trăm người bắt đem phơi
Mình trần phơi sấp rồi lật ngửa
Đấm đá làm cho sặc máu tươi…
(Phạt phơi nắng, A2, tháng 7-1968)
Với những câu chữ mộc mạc, tội ác quân thù hiện lên hết sức cụ thể và man rợ.
Và đây nữa:
Thỏa dạ sói lang, chúng dùng đủ cực hình
Dã man nhất với tù binh Phú Quốc
Ôi! Kim cắm ngón tay, giẻ xăng tẩm đốt
Đinh đóng ống xương cho tủy trắng trào ra
Kìm sắt vặn răng máu hồng chảy chan hòa
Roi cá đuối song đôi làm thịt da tan nát…
(Đá vàng vẫn giữ vàng son, B5, tháng 11- 1969).
Vâng, có thể chúng ta đã từng nghe kể về một vài cực hình tương tự ở một nơi nào đó trong quá khứ nhưng khi được nghe chính người trong cuộc, suốt năm năm trời hoặc chứng kiến, hoặc trực tiếp chịu những cực hình đó kể lại thì thuyết phục hơn, cảm thương nhiều hơn và căm thù trong lòng ta cũng bốc cao hơn.
Nhưng mọi cực hình không khuất phục được những tù nhân ở đây:
Tôi muốn ca rất nhiều những con người gan góc
Cổ kề gươm vẫn ngẩng cao đầu
Trong gông xiềng chẳng sợ những thương đau
Nhìn vũ lực bằng nụ cười mai mỉa…
(Ta quyết sống cho xứng người thế hệ - D5, tháng 8-1969)
Là người có ý thức dùng thể văn vần để ghi lại các sự kiện liên quan với cuộc đời của mình, năm năm ở nhà tù Phú Quốc, Nguyễn Quang Liễn còn làm nhiều bài thơ về các đề tài khác như “Trong tù học thơ cách mạng”, cảm nhận mùa thu vào trại giam hay nỗi vui mừng khi nghe tin một đồng chí của mình vượt ngục thành công… cũng như tình cảm quê hương của tác giả.
Có thể có bạn đọc cho rằng kỹ thuật thơ chưa cao tay. Vâng, chính tác giả biết rõ điều đó, thậm chí có khi bác Liễn phân vân cái mình viết không biết đã phải là thơ đích thực chưa, hay chỉ là những câu văn vần. Nhưng rồi bác an ủi: Văn vần cũng được chứ sao, khi nó là phương tiện hữu hiệu giúp mình lưu lại ký ức một thời không thể nào quên!
Trân trọng cuộc đời và ý nghĩ chân thành của bác, nên tôi viết những dòng này trình bạn đọc để làm Lời giới thiệu.
Tháng 9-2017
Đại tá, Nhà thơ Vương Trọng



Reviews
There are no reviews yet.