Thao thức làng Đồi

Họp đảng ủy xã mở rộng xong, trên đường từ trụ sở về nhà, Nguyệt tạt xe vào quán bà Sen. Chỉ là quán nước, buôn bán lặt vặt mấy thứ hàng khô thôi, nhưng quán bà Sen lúc nào cũng đông khách. Đó bởi vì quán của bà ở vào vị trí đắc địa, có hai mặt tiền: một mặt giáp quốc lộ hai; mặt kia giáp đường làng. Nó nằm ngay ngã ba, cửa ngõ làng Cổ Cò, và cũng là cửa ngõ của làng Phượng Hùng. Người đi, kẻ đến muốn vào làng hoặc đi các xã kế bên không có con đường nào khác đều phải qua chỗ này. Theo quy hoạch, chính ở đây mai sau sẽ xây cổng làng như ở dưới xuôi.

Nó đắc địa còn ở chỗ quán của bà nằm dưới bóng cây đa. Tuy chưa phải là cổ thụ nhưng cây đa này cũng vươn cành, xanh lá, tỏa bóng râm mát trùm lên một khoảng đất khá rộng. Chim chóc đua nhau véo von hót trong tán cây. Tính bà Sen xởi lởi, thậm chí có phần hơi loe xoe nên ai cũng cảm thấy gần gũi, kể cả khách lạ mới đến lần đầu. Giá cả thì phải chăng. Chồng bà mất lâu, các con phương trưởng có danh có phận cả, một mình bà chả lẽ cứ vào ra quanh quẩn xó nhà trong khi đó địa thế thuận lợi như thế. Bà mở quán chủ yếu lấy công làm lãi, kiếm việc làm vừa thêm thu nhập, vừa ngồi cho vui.

Tác giả: Đỗ Xuân Thu

Kích thước: 13 x 19

49,000

Liên hệ ngay

Trích đoạn

Chương 1

QUÁN ĐẦU LÀNG




Họp đảng ủy xã mở rộng xong, trên đường từ trụ sở về nhà, Nguyệt tạt xe vào quán bà Sen. Chỉ là quán nước, buôn bán lặt vặt mấy thứ hàng khô thôi, nhưng quán bà Sen lúc nào cũng đông khách. Đó bởi vì quán của bà ở vào vị trí đắc địa, có hai mặt tiền: một mặt giáp quốc lộ hai; mặt kia giáp đường làng. Nó nằm ngay ngã ba, cửa ngõ làng Cổ Cò, và cũng là cửa ngõ của làng Phượng Hùng. Người đi, kẻ đến muốn vào làng hoặc đi các xã kế bên không có con đường nào khác đều phải qua chỗ này. Theo quy hoạch, chính ở đây mai sau sẽ xây cổng làng như ở dưới xuôi.

Nó đắc địa còn ở chỗ quán của bà nằm dưới bóng cây đa. Tuy chưa phải là cổ thụ nhưng cây đa này cũng vươn cành, xanh lá, tỏa bóng râm mát trùm lên một khoảng đất khá rộng. Chim chóc đua nhau véo von hót trong tán cây. Tính bà Sen xởi lởi, thậm chí có phần hơi loe xoe nên ai cũng cảm thấy gần gũi, kể cả khách lạ mới đến lần đầu. Giá cả thì phải chăng. Chồng bà mất lâu, các con phương trưởng có danh có phận cả, một mình bà chả lẽ cứ vào ra quanh quẩn xó nhà trong khi đó địa thế thuận lợi như thế. Bà mở quán chủ yếu lấy công làm lãi, kiếm việc làm vừa thêm thu nhập, vừa ngồi cho vui.

Tắt máy, dựng xe, Nguyệt bước vào quán. Bà Sen quay cái quạt điện về hướng Nguyệt. Vừa chắt nước từ cái ấm tích đại ra bát, bà vừa nói:

- Lại họp hả chị?

Nguyệt giải thích và khen bát nước vối nóng của bà Sen nấu. Nói theo bố Nguyệt thì "Công nhận nước vối quán bà Sen ngon tuyệt". Trong khi các quán khác dùng chè, dùng nhân trần để pha nước phục vụ khách thì quán bà Sen chung thủy với dòng nước vối này. Nước vối của bà nấu là nước lá vối tươi vừa thơm chát, vừa mát ngọt, với một mùi vị rất đặc trưng. Uống rồi mà dư vị vẫn đọng lại nơi đầu lưỡi.

Bà thường vào nhà cụ Canh dưới chân núi Hang Khay để lấy lá vối. Cây vối nếp duy nhất còn sót lại bên bờ ao là kết quả của sự gìn giữ, bảo vệ, chăm sóc nó của cụ khi cả một khu bềnh vối bị người ta phá sạch để lấy ruộng cấy lúa. Mùa đông, nước vối ủ ấm, nóng hôi hổi, vừa uống vừa xuýt xoa, hít hà, uống đến đâu ấm người đến đó. Mùa hè, cho thêm vài cục đá lạnh vào bát nước vối màu vàng xanh thì đảm bảo uống một bát lại muốn uống tiếp hai, ba bát nữa. Uống bằng bát chứ không phải chén.

- Cái giống vối này hay đáo để.

Nói xong, bà Sen lấy cái hộp đựng nước cốt trầu, chum miệng nhổ một bãi vào đó. Bà lại quệt một vòng quanh miệng. Đôi môi của bà đỏ cắn chỉ. Có lẽ cả làng Cổ Cò này còn sót lại bà Sen và mấy người nữa là vẫn giữ tục ăn trầu. Miệng bà lúc nào cũng bỏm bà bỏm bẻm. Trong bọc bà luôn có một túi giầu vỏ. Được cái răng bà chắc, cứ đen nhánh, đều tăm tắp như hạt na nên chưa phải dùng cối giã.

*

Qua sông Chảy, theo quốc lộ hai lên Tuyên Quang khoảng ba cây số là đến làng Cổ Cò. Làng Cổ Cò bắt đầu từ quán bà Sen rộng dài vào phía trong gần hai cây số. Làng này mới thành lập được hơn năm chục năm nay. Dân ở đây toàn quê gốc ở miền xuôi. Họ đến lập nghiệp, lập làng từ đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Nói chữ là "theo tiếng gọi của Đảng", hơn một trăm hộ của bốn xã gồm Đan Phượng, Liên Minh, Liên Hồng và Trung Châu đã rời bỏ quê cha đất tổ lên xứ này để xây dựng và phát triển kinh tế văn hóa miền núi. Thực chất là họ đi khai hoang. Nôm na là thế. "Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm". Hai câu thơ ấy của nhà thơ Hoàng Trung Thông có sức lay động và kích thích người dân làng Cổ Cò ngày ấy một cách ghê gớm.

Ngày lên đây, bố Nguyệt - ông Quang cũng mới chỉ hơn mười tuổi. Bây giờ ông đang ở tuổi bảy mươi. Nguyệt là con út của ông Quang. Hồi chiến tranh, giặc Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, chúng đã đánh phá ác liệt làng Cổ Cò. Nguyệt ra đời giữa những năm tháng như thế. Tuổi thơ Nguyệt cũng đã kịp nếm trải mùi vị chiến tranh qua những trận ném bom ấy. Nguyệt phải chui hầm, đội mũ rơm và những ngày theo mẹ đi sơ tán mãi tận trong rừng. Đời Nguyệt là gạch nối giữa thời chiến tranh và hòa bình, giữa thế kỷ hai mươi sang thế kỷ hai mốt, giữa thời quan liêu bao cấp với thời đổi mới kinh tế. Trong ký ức thơ ngây của mình, Nguyệt còn lưu giữ lại khá nhiều hình ảnh về những thời kỳ sôi động, gian khó mà hào hùng ấy.

Ngày trước, mẹ Nguyệt kể, làng Cổ Cò mới hình thành còn nghèo khó lắm. Dân dưới xuôi lên, đang chỗ khát đất, gặp nơi rừng rậm, đất nhiều, tha hồ cho họ vùng vẫy. Chặt gỗ làm nhà. Phá nương làm rẫy. Mở đất làm đường. San đồi, bạt núi. Tất cả hăm hở. Ngày đêm lán trại đuốc lửa bập bùng. Hổ báo, lợn rừng, khỉ độc nhiều vô kể. Thế rồi, tất cả muông thú bỏ đi. Không còn rừng cho chúng sống. Chỉ còn lại lũ chim trời cố bám lấy những cây xanh còn sót lại.

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Thao thức làng Đồi”