Lời đề tựa
TÔI biết Trung tướng Anh hùng quân đội Nguyễn Phúc Thanh từ những năm tôi còn là cấp trên trực tiếp của anh trong đội hình Trung đoàn 9 Sư đoàn 304. Đó là những năm tháng trung đoàn chúng tôi chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên, đó cũng là những năm tháng ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường này. Ngày đó Nguyễn Phúc Thanh còn là một cán bộ chỉ huy trẻ rất nổi tiếng trên chiến trường bởi tinh thần dũng cảm và trí thông minh sáng tạo trong chiến đấu. Anh đã được anh em cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn tin tưởng, quý mến.
Nguyễn Phúc Thanh còn là một tấm gương về tinh thần cầu thị, ham học hỏi vì thế anh tiến bộ rất nhanh. Chẳng bao lâu anh đã trở thành cán bộ chỉ huy trung đoàn, sư đoàn và tôi không ngạc nhiên khi từng thấy anh chỉ huy cả một sư đoàn bộ binh cơ giới hiện đại của quân đội ta rồi trở thành một vị Tư lệnh quân đoàn, một Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần của quân đội ta.
Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên và mến phục khi được chứng kiến Nguyễn Phúc Thanh, một người lính chiến chân chất mộc mạc, một ngày kia bỗng trở thành một Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, một Phó Chủ tịch Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên những cương vị quan trọng này, Nguyễn Phúc Thanh đã thực sự tự vượt lên chính bản thân mình để hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nhưng dù làm lính hay làm tướng, dù là cán bộ đảng viên bình thường hay là một Ủy viên Trung ương Đảng, một Phó Chủ tịch Quốc hội thì trước sau Nguyễn Phúc Thanh vẫn giữ vững phẩm chất của một "Anh bộ đội Cụ Hồ".
Cuốn hồi ký của Nguyễn Phúc Thanh đã kể lại một cách giản dị, khiêm nhường về cuộc hành trình của một người chiến sĩ kể từ ngày theo tiếng gọi non sông lên đường đi đánh Mỹ, cứu nước tới ngày anh hoàn thành nhiệm vụ, rời quân ngũ để trở về với đời thường. Được biết, anh đã ghi lại những dòng hồi ức này khi đang nằm trên giường bệnh, điều đó thật đáng trân trọng, vì có thể coi đây là những "trận đánh cuối cùng" của người anh hùng Nguyễn Phúc Thanh để vừa chống lại bệnh tật hiểm nghèo vừa chống lại sự lãng quên của con người, để gửi lại cho mai sau những bài học về một thế hệ đã luôn biết vượt qua mọi gian khổ hy sinh, vượt qua cả những hạn chế của chính thế hệ mình để làm nên những kỳ tích.
LÊ KHẢ PHIÊU
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Mấy lời cùng bạn đọc
Khi các bạn có trên tay cuốn sách này có nghĩa là bạn đã sẵn sàng để tìm hiểu những câu chuyện về cuộc hành trình của một người chiến sĩ. Dù vì thiện cảm với cá nhân tôi hay với những người lính của Bác Hồ nói chung, hoặc chỉ vì tò mò thôi thì cũng xin cảm ơn các bạn. Như bất kỳ một người bình thường hiếu khách nào, tôi xin trân trọng mời bạn bước vào "ngôi nhà ký ức" của mình, dù rằng rất có thể nó vẫn còn đơn sơ, giản dị.
Tôi là Nguyễn Phúc Thanh, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1944 tại làng Vĩnh Thượng, xã Khai Thái, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Tôi nhập ngũ ngày 25 tháng 11 năm 1964. Từ ngày đó tới ngày về nghỉ hưu, mặc dù tôi đã từng là Tư lệnh một quân đoàn chủ lực, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau đó tôi đã được nhân dân tín nhiệm bầu vào Quốc hội, được giao giữ chức chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh và là Phó Chủ tịch Quốc hội, nhưng tôi tự thấy rằng phẩm chất tốt đẹp nhất, xuyên suốt nhất trong con người mình chính là phẩm chất của một người lính, nói cho chính xác hơn đó là phẩm chất của người chiến sĩ, của "Anh bộ đội Cụ Hồ".
Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo trong vùng đồng chiêm trũng của huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây - nay thuộc Hà Nội. Ngôi làng này vốn có tên là làng Vĩnh Xuân Thượng, thuộc xã Chí Minh. Đến năm 1970, sau khi Bác Hồ qua đời, thể theo nguyện vọng của nhân dân trong làng để tôn trọng anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp chính quyền đã đồng ý đổi tên xã thành xã Khai Thái cho tới tận ngày hôm nay. Tên làng thì đổi thành làng Vĩnh Thượng. Tôi cũng không hiểu vì sao các cụ lại bớt đi chữ "Xuân" vốn rất đẹp, rất nên thơ. Tuy vậy, dù tên gọi là gì thì tôi vẫn thấy làng tôi là một ngôi làng đẹp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Làng nằm ngay bên bờ sông Hồng với mái đê xanh hùng vĩ, một công trình trị thủy hữu hiệu, là sự tích hợp bao nhiêu mồ hôi, công sức của ông cha từ bao đời nay để lại. Làng tôi như gối đầu lên mái đê xanh với những con đường xương cá xoè ra tạo thành những ô bàn cờ. Có lẽ vì là làng nghèo, nên ngoài mái đê ra, làng tôi không có được những công trình văn hoá, công trình cộng đồng độc đáo do cha ông để lại. Công sức lao động từ đời này qua đời khác của người nông dân làng tôi đều đổ ra những cánh đồng để từ một vùng đồng chiêm trũng, chiêm khê mùa thối, nay đã trở thành những cánh đồng hai, ba vụ có năng suất cao. Với riêng tôi, cánh đồng làng vừa là một thắng cảnh đẹp vừa là một công trình vĩ đại mà cha ông chúng tôi đã để lại cho những thế hệ mai sau.
Người dân quê hương tôi không chỉ là những người lao động cần cù, sáng tạo mà còn là những người có tình yêu quê hương đất nước nồng nàn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quê hương tôi nằm trong vùng căn cứ kháng chiến của tỉnh Hà Đông. Nhiều gia đình trong làng, trong xã là những cơ sở liên lạc bí mật, cơ sở nuôi giấu cán bộ của Đảng. Nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra và làng tôi cũng như những làng xóm trong vùng đã nhiều lần bị giặc càn, giặc đốt. Đội du kích làng tôi ra đời từ rất sớm và đã tích cực tham gia những hoạt động kháng chiến, nhiều đồng chí đã hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương yêu dấu của mình, trong đó có cả những người thân trong gia đình, dòng họ của tôi. Cụ nội tôi là một trong những chiến sĩ du kích đầu tiên của làng hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Cậu ruột tôi - là liệt sĩ Phạm Đình Cương, hy sinh trong trận đánh bốt Diền. Chú ruột tôi - liệt sĩ Nguyễn Phú Chí hy sinh trong một trận chống càn, cậu ruột tôi hy sinh trong trận đánh bốt Diền... Trong kháng chiến chống Mỹ, trong chi tộc của tôi cũng có hai người hy sinh cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đó là liệt sĩ Nguyễn Phú Dân hy sinh năm 1970 trong chiến dịch Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; liệt sĩ Nguyễn Phí Công hy sinh năm 1969 tại chiến trường Lào. Liệt sĩ Nguyễn Phú Toại hy sinh năm 1970 cũng tại chiến trường Lào. Ngoài ra, trong họ ngoài làng, những người trở thành thương binh, những người còn đang bị mất tích trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta còn rất nhiều. Cha tôi - Nguyễn Phú Kiên, một người suốt đời gắn bó với làng quê, với ruộng đồng, từng là Chủ nhiệm Hợp tác xã nhiều năm, thường dạy tôi "Tình làng nghĩa nước là điều thiêng liêng", vì vậy trên những chặng đường hành quân ra trận tôi vô cùng xúc động mỗi khi gặp được anh em đồng hương, nhiều khi giữa rừng Trường Sơn, trong bãi trú quân của những trạm giao liên tôi chợt đứng lặng, rưng rưng nước mắt trước một cái tên quen thuộc được khắc trên cây - thế là đã có những người con làng Vĩnh Thượng hành quân qua đây để ra mặt trận, chỉ như vậy tôi cũng cảm thấy ấm lòng. Vì những lẽ đó sau này, khi điều kiện cho phép được góp một chút gì đó để tô điểm, xây dựng quê hương tôi đã rất vui mừng được góp phần xây dựng cho làng những công trình có ý nghĩa gắn kết tình làng nghĩa xóm, gắn kết quá khứ với tương lai, đó là Nghĩa trang liệt sĩ để tưởng nhớ những người hy sinh vì nước, là trường học cho các thế hệ tương lai của làng và là những con đường cho mọi người dân trong làng hàng ngày qua lại thăm hỏi nhau và ra đồng làm việc được thuận lợi, hanh thông.
Những ký ức của tôi về làng quê, xóm mạc, về những người con của quê hương Vĩnh Thượng, Khai Thái thì còn rất nhiều, tôi sẽ có dịp trở lại trong những phần tiếp theo của thiên hồi ký này.
Bây giờ có lẽ đã đến lúc tôi muốn nói với các bạn lý do tôi viết hồi ký này.
Những ngày này tôi đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Một căn bệnh khá phức tạp khiến tôi phải nằm viện dài ngày, có lẽ một phần do ảnh hưởng của những năm dài hành quân đánh trận trong những vùng rừng sâu, núi thẳm, những vùng bị chất độc diệt cây cỏ của đế quốc Mỹ hủy diệt. Khi được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu, ý nguyện của tôi là sớm được về với khu vườn nhỏ của mình ở làng Vĩnh Thượng, ngày ngày trồng rau chăn gà, tối tối qua lại trò chuyện với những người bạn đồng niên, đồng tuế nay đã thành những lão nông ở làng. Nhưng bệnh tật và một vài công việc khác vẫn còn níu giữ tôi lại nơi đô thành ồn ào náo nhiệt này. Cũng may, tôi có nhiều bạn bè đồng chí xung quanh. Đa số họ là những người từng vào sinh ra tử, gối đất nằm sương cùng với tôi trên các chiến trường. Mỗi lần đến thăm tôi thì chỉ sau vài lời thăm hỏi là chẳng ai bảo ai, lại bắt đầu "hồi ký miệng". Nhiều khi cái bàn uống trà trở thành sa bàn chiến lệ từ lúc nào chẳng biết. Sau những cuộc trò chuyện đậm màu quá khứ hào hùng như thế nhiều người đã khuyên tôi: "Anh có trình độ tư duy, có trí nhớ tốt lại có chút địa vị xã hội, nên viết hồi ký đi. Viết đi, ghi lại đi kẻo sau này chẳng còn ai biết chúng ta đã sống và chiến đấu như thế nào trong những năm tháng oanh liệt ấy".
Tôi cũng không muốn tin rằng nếu tôi không xắn tay áo lên mà viết hồi ký thì các thế hệ mai sau sẽ lãng quên quá khứ hào hùng của cha ông. Có rất nhiều người tài giỏi đã và đang làm cái việc ghi chép lại lịch sử. Cũng có rất nhiều cách, nhiều con đường để một dân tộc, một quốc gia không mất đi ký ức. Hơn nữa, dân tộc ta lại là một dân tộc có truyền thống "uống nước nhớ nguồn", bao nhiêu võ công hiển hách từ cách đây hàng ngàn năm, bao nhiêu vị anh hùng dân tộc và thậm chí cả những người bình dân nhất đã có công đánh giặc giữ nước cách nay hàng trăm năm vẫn còn được ghi ơn, tưởng vọng, nữa là những câu chuyện về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược chỉ mới xảy ra cách đây vài ba chục năm?
Vì vậy, nếu tôi có viết hồi ký thì cũng chỉ vì những nhu cầu nội tâm của riêng mình, không dám hy vọng làm được điều gì lớn lao to tát.
Có lẽ không có chút tình cờ nào khi mấy đứa con tôi hiện nay đều đã trưởng thành và đều đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang. Con gái lớn của tôi, Nguyễn Thị Tuấn hiện đang là bác sĩ quân y, mang quân hàm thiếu tá. Con trai thứ hai của tôi, Nguyễn Phúc Huấn hiện là phi công đang phục vụ tại Trung đoàn không quân 96. Con trai thứ ba của tôi, Nguyễn Phúc Quân hiện mang quân hàm thiếu tá, công tác trong ngành Công an.
Vợ tôi thường nói: "Mấy bố con ông đều là lính, chỉ có mình tôi là dân... Nhưng quân với dân như cá với nước. Bố con ông là cá, tôi là nước. Cá mà không có nước thì sống làm sao được?". Bà ấy nói có lý, như đã luôn có lý khi thay tôi nuôi dạy đàn con lớn khôn trong những năm tôi mải mê trên con đường binh nghiệp.
Vợ tôi tên là Phạm Thị Được, sinh năm Canh Dần (1950). Các cụ thường nói con gái tuổi Dần thì quyền biến, đảm lược nhưng thường gian nan vất vả. Điều đó phần nào đã đúng với cuộc đời người vợ của tôi cho tới ngày hôm nay. Vợ tôi là người cùng làng, làm giáo viên cấp 1. Năm 1973, sau khi Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệu lực được ít ngày thì tôi được nghỉ phép về quê cưới vợ. Câu chuyện tình duyên của chúng tôi chẳng có gì ly kỳ mà cũng giống hệt như mọi mối tình của người lính thời chiến tranh: "Bộ đội thì lấy gái làng/Nếu là cô giáo lại càng đẹp duyên!". Hồi đó lính tráng chúng tôi thường truyền tụng nhau cái câu cửa miệng đó. Mặc dù lúc đó tôi đã là trung đoàn phó nhưng trong mắt vợ tôi, tôi cũng chỉ như mọi anh bộ đội khác trong thời đất nước có chiến tranh, cưới nhau được sáu tháng mười ngày, tôi lại trở về đơn vị, tiếp tục con đường trường chinh ra trận của mình, mọi gánh nặng gia đình đều đặt lên vai người vợ trẻ. Vợ tôi luôn tự hào với cái danh "vợ lính". Ngay cả sau này có một số năm tôi rời bộ đội để đi làm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh, Phó Chủ tịch Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước chứ đâu có phải chuyện đùa? Nhưng với vợ tôi, tôi vẫn là "ông bộ đội già", có là đại biểu Quốc hội chăng nữa thì cũng chỉ là "ông nghị lính" mà thôi!
Ngày 28 tháng 5 năm 2010, một niềm vinh dự lớn lao đã đến với tôi và gia đình - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho cá nhân tôi. Đây không chỉ là niềm vinh dự tự hào của riêng tôi và gia đình tôi, bạn bè, đồng chí đồng đội, các đơn vị tôi từng tham gia chiến đấu và công tác đều chia vui với tôi. Tổng cục Hậu cần, đơn vị cuối cùng tôi phục vụ trước khi ra công tác ở Quốc hội đã tổ chức một buổi lễ trang trọng và ấm cúng để vinh danh tôi. Chính trong những ngày vui này lại là những ngày tôi nhớ nhiều đến đồng chí, đồng đội, nhất là những người đã khuất. Điều đó càng thôi thúc tôi phải làm một điều gì đó để ghi nhớ những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình, những năm tháng tôi trưởng thành cùng đồng đội trong máu lửa chiến tranh.
Tôi muốn ghi lại những hồi ức của mình có lẽ cũng là vì gia đình thân yêu của mình. Các con tôi tuy đều đã là sĩ quan nhưng chúng lớn lên trong thời bình, chưa từng thực sự có điều kiện để làm chiến sĩ theo đúng nghĩa thì đã trở thành những sĩ quan, có điều kiện sống và làm việc tốt hơn thời chúng tôi là lính, là sĩ quan cả trăm lần. Dĩ nhiên không ai có thể kéo lùi quá khứ hay muốn đất nước lại có chiến tranh, tao loạn để chúng cũng được rèn luyện thử thách như thế hệ cha anh. Nhưng ai dám bảo đảm rằng cuộc đời của chúng sẽ không có những thời điểm phải đương đầu với những thử thách tương tự. Khi ấy, những bài học về lẽ sống, về những kỹ năng để tồn tại và chiến đấu của thế hệ cha anh chắc chắn là sẽ rất có ích cho chúng.
Nhưng muốn có ích cho đời thì trước hết những điều chúng ta định truyền lại cho thế hệ mai sau phải là những điều tâm huyết nhất và trung thực nhất. Tôi đã nghĩ như vậy khi quyết định ghi lại thiên hồi ký này. Vì vậy điều đầu tiên tôi phải cam kết với bạn đọc, đó chính là sự chân thực. Tôi không bao giờ có ý định viết hồi ký để vinh danh, lập thuyết cho cá nhân mình. Nhưng đây là những hồi ức cá nhân, nên tôi bắt buộc phải miêu tả những sự kiện trong cuộc đời mà mình từng trải qua dưới góc nhìn của riêng mình. Đã là góc nhìn cá nhân thì dĩ nhiên không phải là tầm nhìn toàn cục, vì vậy rất có thể những gì tôi nhìn thấy và kể ra ở đây có sự khác biệt với những trải nghiệm của các đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp của tôi. Điều đó xin được bạn bè đồng chí, đồng nghiệp và bạn đọc chia sẻ, cảm thông.
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và quân đội; cảm ơn đồng chí đồng đội, đồng nghiệp, bạn bè đương thời và thiếu thời, đã động viên, khích lệ, cung cấp nhiều tài liệu quý giá để tôi hoàn thành tập hồi ký này.
Xin cảm ơn gia đình, anh em, vợ và các con đã cho tôi niềm tin yêu và chỗ dựa vững chắc trong suốt cuộc "Hành trình của một người chiến sĩ".
TÁC GIẢ



Reviews
There are no reviews yet.