LỜI NÓI ĐẦU
Nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954 - 7.5.2009), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tổ chức xuất bản, giới thiệu đến bạn đọc tập sách "Đâu có giặc là ta cứ đi" do Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Ban liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 316 tại Hà Nội sưu tầm, biên soạn.
Nội dung tập sách gồm:
Phần I: Hồi ký "Đường tôi đi" và một số bút tích của Anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ, nguyên Phó ban tác chiến Sư đoàn 316 (thời kỳ 1968 - 1970); một trong 27 cán bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" do đã lập thành tích đặc biệt xuất sắc tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Phần II: Hồi ức của các tướng lĩnh, đồng đội và báo chí viết về chiến công của Anh hùng Lê Văn Dỵ.
Phụ lục: Một số ảnh cá nhân, người thân và đồng đội của Anh hùng Lê Văn Dỵ.
Sau 5 năm xuất bản và phát hành, cuốn sách đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và tiếp tục bổ sung nhiều tư liệu quý. Năm 2014, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi tổ chức chỉnh lý, tái bản cuốn sách với mong muốn bạn đọc xa gần được tìm hiểu thêm về cuộc đời của một người Anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ - đồng chí Lê Văn Dỵ.
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
LỜI TỰA
Phần I trong tập sách này là hồi ký "Đường tôi đi" của Anh hùng liệt sĩ Lê Văn Dỵ - một trong những cán bộ ưu tú của Sư đoàn 316. Với bề dày 24 năm liên tục phục vụ trong quân đội, tham gia hàng chục trận đánh trong nhiều chiến dịch lớn trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đó chính là nguồn tư liệu sống quý giá để anh viết nên những trang hồi ký rất có giá trị, tô thắm thêm truyền thống lịch sử vẻ vang của Sư đoàn 316 anh hùng, cũng như của các trung đoàn tiền thân, trực thuộc mà anh đã từng có vinh dự được sống và chiến đấu: Trung đoàn Vĩnh Phúc (1946), Trung đoàn 72 Bắc Kạn (1947 - 14/9/1949), Trung đoàn 174 Cao Bắc Lạng (15/9/1949 - 10/1953), Trung đoàn 176 (10/1953 - 1956).
Sau khi cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, anh lại lên đường chiến đấu vì nghĩa vụ quốc tế tại nước bạn Lào, trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 316.
Sau 5 năm chiến đấu tại nước bạn, tháng 10-1964 Lữ đoàn 316 trở về hậu phương tổ chức lại theo mô hình Sư đoàn để phù hợp với yêu cầu tác chiến trong tình hình mới. Tranh thủ thời gian quý giá đó, từ ngày 22/12/1964, anh bắt đầu viết hồi ký, để ghi lại "những mẩu chuyện sinh hoạt và chiến đấu trong đời bộ đội". Ngày 17/3/1965, anh viết xong phần giai đoạn chống Pháp, khi đang viết những dòng đầu tiên về "Trận đầu trên đất bạn" trong giai đoạn đánh Mỹ, thì ngày 19/3/1965, anh được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 (tháng 5/1966 là Tham mưu trưởng) và anh lại cùng đồng đội vượt Trường Sơn sang Lào tiếp tục chiến đấu trong bối cảnh ngày càng khốc liệt hơn. Vì thế, cuốn hồi ký chưa kịp hoàn thành, anh phải để lại hậu cứ Mộc Châu, chờ khi có dịp trở về sẽ viết tiếp...
Thế rồi, cuốn hồi ký của anh mãi mãi không kịp hoàn thành và quyết tâm "Đâu có giặc là ta cứ đi" của anh đã vĩnh viễn khép lại trong buổi hoàng hôn ngày 13/3/1970. Anh đã anh dũng hy sinh giữa lúc chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đang bước vào giai đoạn ác liệt nhất, khi đơn vị và đồng đội đang cần anh nhất (anh đang đảm trách cương vị Phó ban tác chiến Sư đoàn 316); và anh chuẩn bị bước vào tuổi 44 - độ tuổi hứa hẹn lập nhiều chiến công mới, hiến dâng cho Tổ quốc.
Tuy không phải là cán bộ chuyên làm công tác tuyên huấn, chính trị và chưa được đào tạo ở một trường lớp chính quy, dài hạn nào, nhưng với tư chất thông minh cộng với trí nhớ tuyệt vời và phong cách làm việc chính xác, cụ thể, khoa học của một cán bộ chỉ huy tác chiến giàu kinh nghiệm, nên những trận đánh, những câu chuyện sinh hoạt trong đời bộ đội mà anh viết trong hồi ký thật vô cùng sinh động, súc tích, tràn đầy lạc quan cách mạng, thấm đậm tình người, tình đồng chí, tình quân dân và tinh thần đoàn kết đặc biệt Việt - Lào son sắt, thủy chung.
Bằng phương pháp tả thực nhưng không kém lãng mạn của anh, chân dung anh Bộ đội Cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp thật giản dị, chân chất mà vĩ đại biết bao! Trong chiến đấu với quân thù thì dũng cảm, kiên cường, coi thường cái chết và sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc. Trong cuộc sống đời thường thì chứa chan tình đồng
chí, đồng đội; trong tình cảm riêng thì luôn hướng về người thân, về quê hương với nỗi niềm nhớ thương da diết, thủy chung.
Do không còn thời gian để viết về giai đoạn đánh Mỹ, nhưng chỉ với ít dòng ngắn ngủi, hình ảnh người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã được anh khắc họa thật là cao đẹp:
"Hòa bình được lập lại trên đất Bắc, từ Mục Nam Quan đến Bến Hải, nhân dân miền Bắc nước ta vui mừng phấn khởi xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa trong hòa bình. Nhưng một nửa đất nước ta còn bị chia cắt, miền Nam thân yêu vẫn bị đế quốc và bè lũ tay sai xâm lược, đàn áp, bóc lột.
Mâu thuẫn ấy không cho phép lương tâm người cách mạng, người đảng viên ngừng tay súng chiến đấu, ngừng tay bút học tập. Người Cách mạng yêu quý gia đình, yêu quý Tổ quốc, nhân dân mình, nhưng phải có tinh thần quốc tế cao cả, đó là tinh thần quốc tế vô sản.
Những mối đe dọa đời sống hòa bình của nhân dân ta, uy hiếp miền Bắc xã hội chủ nghĩa là đế quốc Mỹ và phản động Lào. Vậy muốn bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện đắc lực cho cách mạng miền Nam, chúng tôi phải kiên quyết, tự giác chiến đấu đánh Mỹ, giúp bạn, bảo vệ miền Bắc, chi viện đắc lực cho miền Nam. 11 năm hòa bình, tôi vinh dự được làm nhiệm vụ quốc tế vinh quang này.
Năm 1961: Chúng tôi đã tiêu diệt, bắt toàn bộ quân thù ở Mường Sài, thu toàn bộ vũ khí, khí tài.
Năm 1962: Đánh tan GM11 của địch và tiểu đoàn PSIII, giải phóng Mường Peng, Mường Hùn, Nà Vang cho tới Huổi Sai, biên giới Thái Lan; giải phóng Nậm Sẻ, Nà Mỏ; giải phóng Nậm Thà. Bắt 4.000 tên giặc, thu toàn bộ vũ khí.
Năm 1964: Quay sang quét phỉ giải phóng Mường La, Long Gia, quân địch bỏ chạy".
Chiến trường Thượng Lào lúc đó vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng người lính tình nguyện Việt Nam đâu có quản ngại, các anh đã gắn bó máu thịt với nhân dân các bộ tộc Lào, kề vai sát cánh với bộ đội Pathét Lào đánh Mỹ và bè lũ tay sai; đất nước bạn đối với các anh cũng thật sự thân thương như Tổ quốc mình:
"Những ngày trên đất nước bạn, đã ghi lại trong đời tôi những ký ức, kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội của mình. Núi cao, rừng rậm, khe sâu, vực thẳm bao la của đất nước bạn hùng vĩ, chẳng khác chi một hành tinh xa xôi vậy. Cánh đồng mênh mông, bát ngát của Nậm Thà, Nậm Bạc, Mường Hùn thật là giàu đẹp. Dòng sông Nậm U, Nậm Phặc, Nậm Ngà ngoằn ngoèo uốn khúc, nước trong xanh khi chảy hiền hòa, khi hung dữ của những mùa nước lũ đã ghi lại trong đời tôi đã qua đây những dòng hồi ký về cuộc sống, chiến đấu sinh động".
*
* *
Do hoàn cảnh chiến tranh nên trong nhiều năm, có một sự kiện đặc biệt rất nhiều người chưa được biết, kể từ dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ đến nay đã được nhiều người và các phương tiện thông tin đại chúng công nhận: Anh hùng Lê Văn Dỵ chính là người đã nói câu nói nổi tiếng: "Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi!" vào cuối năm 1953. Câu nói đã khơi nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác bản hùng ca 'Hành quân xa" - một bài hát hoàn thành trong lúc hành quân, trước khi trận Điện Biên Phủ mở màn và đã góp phần khích lệ mạnh mẽ ý chí giết giặc lập công của bộ đội ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu".
Hy vọng cuốn sách này sẽ góp phần giúp cho chúng ta, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên hiểu biết thêm về thế hệ cha anh đã sống, chiến đấu như thế nào để giành được độc lập - thống nhất cho Tổ quốc; để tiếp bước cha ông trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, tự hào sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.
Hà Nội, ngày 3 tháng 2 năm 2009
HOÀNG TIÊU SƠN
Nguyên Chính ủy Trung đoàn 176 Đại đoàn 316 (1953-1954)



Reviews
There are no reviews yet.