Chung dãy Trường Sơn

Tôi có may mắn là được tham gia quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1947-1957), được chung sống và chiến đấu với nhân dân các bộ tộc Lào trong những năm kháng chiến chống Pháp. Và sau đó, khi về Việt Nam học tập, tôi đã trở thành một nhà nghiên cứu về tiếng Lào và văn hóa Lào. Nếu như 10 năm chiến đấu ở Lào, tôi đã được học hỏi nhân dân Lào, cảm nhận nền văn hóa Lào như là một người bản ngữ, thì 10 năm (1980-1990), với tư cách là một nhà khoa học nghiên cứu về Lào – trưởng đoàn chuyên gia khoa học xã hội Việt Nam tại Lào, chúng tôi lại được may mắn làm việc và học tập, nghiên cứu với Chủ tịch Phu-mi Vông-vi-chít, Bộ trưởng Xi-xa-nạ Xi-xán, các nhà khoa học nổi tiếng như Mạ-há Xi-la, Mạ-há Khăm-phăn, các nhà văn hóa lớn của Lào như nhà thơ Xôm-xỉ Đê-xa, nhà văn Xu-văn-thon, nhà nghiên cứu Vi-xiên và thế hệ các nhà văn hóa trẻ như Bua-kẹo, Bò-xéng-khăm, U-đôm Xi-cha-lơn, Thoong-xá, Khăm-bay, v.v…

Tác giả: Võ Đình Hường

Kích thước: 14,5 x 20,5

46,000

Liên hệ ngay

LỜI GIỚI THIỆU


      Tôi có may mắn là được tham gia quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1947-1957), được chung sống và chiến đấu với nhân dân các bộ tộc Lào trong những năm kháng chiến chống Pháp. Và sau đó, khi về Việt Nam học tập, tôi đã trở thành một nhà nghiên cứu về tiếng Lào và văn hóa Lào. Nếu như 10 năm chiến đấu ở Lào, tôi đã được học hỏi nhân dân Lào, cảm nhận nền văn hóa Lào như là một người bản ngữ, thì 10 năm (1980-1990), với tư cách là một nhà khoa học nghiên cứu về Lào - trưởng đoàn chuyên gia khoa học xã hội Việt Nam tại Lào, chúng tôi lại được may mắn làm việc và học tập, nghiên cứu với Chủ tịch Phu-mi Vông-vi-chít, Bộ trưởng Xi-xa-nạ Xi-xán, các nhà khoa học nổi tiếng như Mạ-há Xi-la, Mạ-há Khăm-phăn, các nhà văn hóa lớn của Lào như nhà thơ Xôm-xỉ Đê-xa, nhà văn Xu-văn-thon, nhà nghiên cứu Vi-xiên và thế hệ các nhà văn hóa trẻ như Bua-kẹo, Bò-xéng-khăm, U-đôm Xi-cha-lơn, Thoong-xá, Khăm-bay, v.v…

      Mối tình đoàn kết keo sơn Việt - Lào trong tôi được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bạn Lào dạy dỗ đã khắc sâu trong tâm khảm tôi và trở thành cảm hứng chủ đạo gắn cuộc đời tôi với cách mạng Lào, với văn hóa Lào. Cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ đầy hy sinh và những thắng lợi vẻ vang của hai dân tộc đã dệt nên những hình ảnh tuyệt vời về tình mẫu tử thiêng liêng, về tình đồng chí "cùng chung một chiến hào" gắn bó hy sinh vì nhau, về niềm vui sướng hân hoan trong ngày đại thắng,… Tất cả sẽ còn đọng lại trong trái tim mỗi chúng ta và trở thành truyền thống vô cùng quý báu của cách mạng hai nước.

      Trong bối cảnh hào hùng ấy, văn thơ cách mạng Việt Nam và Lào đã phản ánh tình cảm, trí tuệ và góp phần cổ vũ cho tình hữu nghị đặc biệt đó. Ở đây mối quan hệ đặc biệt ấy cũng đã diễn ra hết sức thú vị. Trước hết, nó được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cao cấp của Lào (Chủ tịch Hoàng thân Xu-pha-nu-vông,

      Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Chủ tịch Phu-mi Vông-vi-chít, Bộ trưởng Xi-xa-nạ Xi-xán…) với những bài phát biểu, bài thơ đầy xúc động như bốn câu thơ của Hồ Chủ tịch:

      Thương nhau mấy núi cũng trèo,

      Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.

      Việt - Lào hai nước chúng ta

      Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long!".

      mở đầu cho cảm hứng nghệ thuật thơ văn viết về tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào. Trong tâm hồn của những đoàn quân tình nguyện ai mà không mang đậm dấu ấn bài thơ bất tử của nhà thơ Quang Dũng:

      "Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy

      Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi".

      Có rất nhiều nhà văn, nhà thơ mở đầu sự nghiệp sáng tác của mình bằng tác phẩm viết về chủ đề "Đoàn kết Lào - Việt". Tôi đã có dịp làm quen với nhà văn Lê Khâm khi trở về cùng học tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp những năm 60. Anh đã viết hai tác phẩm đầu tay: "Bên kia biên giới" và "Trước giờ nổ súng"; nhà văn Văn Linh (bút danh Lào: Thao Bun-lin) đã viết tác phẩm đầu tay nổi tiếng "Mùa hoa dẻ" và sau này hàng loạt tác phẩm được Pathét Lào công bố, viết kịch bản "Cánh Đồng Chum"…; nhà thơ Xôm-xỉ Đê-xa với bài thơ "Lào - Việt xa-ma-khi" pha lẫn tiếng Lào với tiếng Việt, nhà văn Xu-văn-thon ban đầu viết theo lối "người thực việc thực" và sau này viết về "Trai Lào gái Việt", "Người con gái của Đảng"…

      Cuốn sách Chung dãy Trường Sơn của nhà nghiên cứu Võ Đình Hường là một chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Để cho người đọc tiện theo dõi, ngoài chương mở đầu mang tính khái quát về lịch sử mối quan hệ, tác giả đã chia chuyên luận thành hai phần: Văn thơ cách mạng Việt Nam và văn thơ cách mạng Lào viết về mối quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt.

      Tác giả giới thiệu một số sáng tác của các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu Việt Nam viết về những chuyến đi của họ tới Lào như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyên Ngọc, Thép Mới, Lưu Trùng Dương… qua các bút ký, phóng sự, ký sự, ghi chép… đầy ắp những kỷ niệm, những hình ảnh thân thương, những tình cảm nồng thắm đối với nước Lào, nhân dân Lào. Tác giả dành nhiều trang để phân tích hai cuốn tiểu thuyết của Lê Khâm phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào…, qua đó người đọc thấy Việt Nam và Lào là hình mẫu tuyệt vời của sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi. Những hình ảnh quân tình nguyện Việt Nam đi xây dựng cơ sở chính trị và lực lưượng vũ trang cùng sát cánh chiến đấu, đồng cam cộng khổ, chống mọi thủ đoạn quỷ quyệt của kẻ thù, lập làng kháng chiến, tổ chức những cơ sở khám chữa bệnh… Tất cả đều nói lên một chữ tình thủy chung son sắt. Đúng như nhà thơ Trường Sơn đã viết:

      "Anh đã sống ở nhiều đất nước,

      Bao đô thành, hải cảng, dòng sông.

      Nếu ai hỏi: Nơi nào tình đẹp nhất?

      Anh bảo rằng: Quê ngoại xứ lăm vông".

      Về phía những nhà văn nhà thơ Lào, họ cũng đã dành những ý thơ đẹp, những trang sách hay viết về tình nghĩa Lào - Việt. Những vần thơ giản dị, xinh xắn nói lên tấm lòng biết ơn sâu sắc những hy sinh to lớn của quân và dân Việt Nam trên chiến trường Lào. Các nhà thơ như Xôm-xỉ Đê-xa, Phu-mi Vông-vi-chít, Xi-xa-nạ Xi-xán, Đuông-đi, Thoong-in, Vi-lay Kẹo-ma-ni, Đuông-chăn-ma-ni… đã viết nhiều bài thơ đầy cảm xúc như: Tình hữu nghị Lào - Việt, Tình đoàn kết Lào - Việt, Tình nghĩa Lào - Việt, Chung một chiến hào, Nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ kính yêu của giai cấp vô sản, Hai anh em sinh đôi…

      "Lào - Việt hai nước chúng ta

      Xưa nay gắn bó thiết tha nghĩa tình

      Đất trời một dải đẹp xinh

      Khi gian khổ, lúc quang vinh… ta cùng".

      Phu-mi Vông-vi-chít

      Ai có thể không bồi hồi xúc động khi đọc hồi ký của tướng Xinh-ca-pô "Cuộc chiến đấu bảo vệ thành phố Thà Khẹt". Ngày 21 tháng 3 năm 1946 là ngày căm thù chung của cả hai dân tộc đối với bọn thực dân cướp nước, đồng thời cũng là ngày gắn chặt xương máu, tình đoàn kết sống chết có nhau giữa hai dân tộc Lào - Việt. Và thật cảm động khi chúng ta được đọc bức thư của Chủ tịch Hoàng thân Xu-pha-nu-vông gửi cụ Lê Thước - thân sinh của chiến sĩ Lê Thiệu Huy - người đã hy sinh thân mình để bảo vệ Hoàng thân trên con xuồng vượt sông Mêkông sang Xiêm.

      Có thể nói, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản là người đã thể hiện tình cảm đặc biệt Lào - Việt dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng chí viết: "Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào thật vô giá! Tình nghĩa Việt Nam đối với Lào thật sâu nặng, trọn vẹn, thủy chung. Sự giúp đỡ lớn lao và tình nghĩa sâu nặng đó đã khắc sâu vào tâm khảm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào chúng tôi và sẽ sống mãi với non sông đất nước chúng tôi".

      Đúng như tác giả đã viết: "Do tầm vóc lớn lao và nội dung sâu rộng của mối quan hệ, trong khi những thành tựu văn học đạt được còn ở mức khiêm nhường và những tư liệu văn học có được còn ở mức hạn chế", nhưng với tấm lòng trân trọng và bằng bút pháp phân tích văn học khá sâu sắc, tác giả đã giới thiệu với chúng ta bức tranh toàn cảnh - dù chỉ là những nét chấm phá về tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, Lào - Việt qua thơ văn cách mạng Việt Nam và Lào.

      Một việc làm không kém phần quan trọng nữa của tác giả sau phần chuyên luận là phần tuyển chọn sáng tác với những tác phẩm tiêu biểu (văn và thơ) của cả hai nền văn học Việt Nam và Lào, về mối quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt. Đây thực sự là những sáng tác tiêu biểu không chỉ cho từng giai đoạn lịch sử mà cho từng vấn đề đã được đề cập trong phần chuyên luận; đây cũng là những sáng tác có giá trị không chỉ về nội dung mà cả về mặt nghệ thuật. Qua phần tuyển chọn sáng tác, phần chuyên luận trở nên sống động và hấp dẫn hơn mà về phía bạn đọc, được tiếp xúc với tác phẩm khá trọn vẹn cũng cảm thấy hứng thú hơn. Và do đó, hiệu quả mang lại chắc sẽ lớn hơn.

      Tôi xin cảm ơn tác giả đã dành cho tôi, thêm một lần nữa cái duyên may được giới thiệu công trình này với đông đảo bạn đọc. Hy vọng các bạn, cũng bằng tư duy nghệ thuật sẽ cảm nhận một cách sâu sắc, đa dạng, độc đáo những hình tưượng đẹp, những cảm xúc mạnh mẽ tràn đầy có một không hai của mối tình đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam


      Hà Nội, tháng 5 năm 2012

      GS.TS Phạm Đức Dương 

     

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Chung dãy Trường Sơn”