Một góc nhìn

Vào một ngày mùa xuân năm Tân Hợi (1914), tức năm Hồng Đức thứ 22 triều Lê Thánh Tông, tại làng Trình Tuyền (nay là làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo (Vĩnh Lại xưa), thuộc ngoại thành Hải Phòng), ông giám sinh Nguyễn Văn Định và bà học sĩ Nhữ Thị Thục, con gái Tiến sĩ Thượng thư Bộ lại Nhữ Văn Lan (quê làng An Tử Hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) cho ra đời cậu bé Văn Đạt, mà ngay từ nhỏ đã có nét thông minh, tuấn tú khác người. Cậu được người mẹ là bà Nhữ Thị Thục từng nhiều năm theo cha là Thượng thư Bộ lại Nhữ Văn Lan mài kinh nấu sử ở kinh thành, văn hay chữ tốt, lại biết cả tướng số, kèm cặp, dạy dỗ từ khi còn nhỏ…

Tác giả: Cao Năm

Kích thước: 13 x 19

30,000

Liên hệ ngay

Trích đoạn

       XUÂN TRONG THƠ TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM


       Vào một ngày mùa xuân năm Tân Hợi (1914), tức năm Hồng Đức thứ 22 triều Lê Thánh Tông, tại làng Trình Tuyền (nay là làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo (Vĩnh Lại xưa), thuộc ngoại thành Hải Phòng), ông giám sinh Nguyễn Văn Định và bà học sĩ Nhữ Thị Thục, con gái Tiến sĩ Thượng thư Bộ lại Nhữ Văn Lan (quê làng An Tử Hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) cho ra đời cậu bé Văn Đạt, mà ngay từ nhỏ đã có nét thông minh, tuấn tú khác người. Cậu được người mẹ là bà Nhữ Thị Thục từng nhiều năm theo cha là Thượng thư Bộ lại Nhữ Văn Lan mài kinh nấu sử ở kinh thành, văn hay chữ tốt, lại biết cả tướng số, kèm cặp, dạy dỗ từ khi còn nhỏ. Văn Đạt ngay từ khi còn nhỏ đã nổi tiếng trong đám nho sinh là người học giỏi, hiểu biết hơn người. Nhưng cũng mãi đến khi đã ở tuổi 45, Văn Đạt mới đổi tên thành Bỉnh Khiêm ra dự kỳ thi Hội, rồi thi Đình, thi Hương Năm Ất Mùi (1535) đỗ đầu bảng, trở thành Trạng nguyên dưới triều Mạc niên hiệu Đại chính năm thứ 6 đang ở lúc suy vong. Tuy đỗ đầu Tam nguyên, tài cao đức trọng, nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ làm quan dưới triều nhà Mạc được bảy năm, đến năm 1542 vừa vào tuổi 52, sau khi dâng sớ lên nhà vua xin chém đầu kẻ lộng thần không được chuẩn y, cụ cáo quan về ở tại quê nhà "am quán thư nhàn" và mở trường dạy học, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm còn được người đời sùng kính gọi là Tuyết giang phu tử (người thầy giáo bên dòng Tuyết giang - con sông chảy qua gần làng cụ).

       Là người đa tài, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho đời hàng nghìn bài thơ Nôm, thơ Việt - Hán và những áng văn kiệt tác, điển hình là "Bài bi ký quán Trung Tân", mà ngày nay có dịp đọc lại thấy những điều cụ viết cách chúng ta hàng mấy trăm năm vẫn còn gần gũi lắm. Từ những bài thơ khuyên nhủ con người ta sống có luân thường đạo lý, tình bạn bè bằng hữu chung thủy trước sau, đến thơ viết về loài vật, cảnh sắc bốn mùa... Chỉ một cái quán Trung Tân cụ cùng các bô lão ở làng dựng lên cho người qua đường dừng chân nghỉ mát, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có hàng chục bài thơ với cách diễn tả tâm trạng, cảnh sắc thiên nhiên mỗi bài mỗi khác. Bởi thơ văn của Trạng Trình đầy tâm trạng, lắm suy tư về nhân tình thế thái, dẫu là thơ tức cảnh như bài "Thu phong" (Gió thu), "Nhân thôn" (Xóm làng), hay viết về loài vật như bài "Tăng thử" (Ghét chuột), "Anh vũ" (Con vẹt) cũng đều hàm chứa tâm trạng của cụ (và cũng là của nhân dân) với người, với đời. Nói thế để thấy một người "luôn lo trước thiên hạ đến già chưa nguôi"( Những câu thơ dẫn trong bài đều lấy từ "Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm" - Nhà xuất bản Văn học – 1993), luôn mong cho mọi người đều làm điều thiện, đều được hưởng cuộc sống thanh bình, cũng là người luôn lạc quan yêu đời, lòng đầy cảm xúc như Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể hững hờ mỗi độ xuân sang lòng người, tiết trời dạt dào sinh khí mới. Dưới con mắt của nhà thơ lớn Nguyễn Bỉnh Khiêm, mùa xuân không chỉ là sự luân hồi của tạo hóa "lần lữa ngày qua tháng qua", mà mỗi độ xuân đến tuổi tác có già thêm: "Một phen xuân đến một phen già", thì tâm hồn vẫn: "Ái ưu vằng vặc: trăng in nước; danh lợi lâng lâng: gió thoảng qua". Lòng yêu nước thương dân đẹp như vầng trăng in đáy nước, thì dù cuộc sống còn nhiều khó khăn túng thiếu: "Thèm nỡ phụ canh cua ốc; lạnh đà quen đắp ổ rơm" nhưng vẫn tin mọi trắc trở rồi sẽ qua đi, cuộc sống tràn đầy sức xuân sẽ đến:

       Ai biết sau thu đông khốc hại

       Lại xuân đầm ấm khí dương hòa.

       Bởi yêu lắm lắm quê hương, đất nước mỗi độ xuân về như vẽ lên đất trời một bức gấm thêu:

       Giang sơn một bức là tranh vẽ

       Phong cảnh tứ mùa ấy gấm thêu.

       Thì lòng nào mà chẳng động lòng với xuân. Ngay cả khi đã về ở ẩn nơi quê nhà: "Một mai, một cuốc, một cần câu", Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thấy xuân về mang đến cho đời, cho người sinh khí mới:

       Am quán thư nhàn xuân thắm mãi

       Giang sơn như họa bút sinh hương.

       Và cả đến khi tuổi đã chín mươi, sức khỏe giảm sút: "Tóc đã thưa, răng đã mòn/Việc nhà đã phó mặc dâu con", thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tin vào sức sống mùa xuân không bao giờ cạn:

       Chín mươi thì kể xuân đà muộn

       Xuân ấy qua thì xuân khác còn.

       Bởi trong lòng người có phẩm chất cao đẹp, luôn "lấy cái chính giữa của tính thiện" ( Trong bài "Bi ký quán Trung Tân" - sđd) để hướng mọi suy nghĩ và hành động của mình về đó "đi trên mặt phẳng, noi theo đường chính, không lầm lỡ rẽ sang lối khác" thì dù ngày tháng có trôi, tuổi xuân có qua nhanh đi chăng nữa, thì mỗi mùa xuân đến chỉ càng làm cho con người thêm từng trải, già dặn và ý chí càng thêm vững bền:

       Vời vợi xuân xanh như tên

       Già càng khỏe, khó càng bền.

       Chín mươi tuổi mà vẫn "Xuân ấy qua thì xuân khác còn", coi tuổi tác ngày một cao chỉ "càng khỏe, càng bền" thì quả là một cách nghĩ, cách nhìn đầy lạc quan, xuân sắc….

      

Reviews

There are no reviews yet.

Be the first to review “Một góc nhìn”