LỜI NÓI ĐẦU
Địa bàn Quân khu 3 bao gồm phần lớn đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng phụ cận, là địa bàn chiến lược trọng yếu của đất nước, cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, nơi diễn ra biết bao sự tích anh hùng và những chiến công chói lọi.
Trên phương diện là một tổ chức hành chính quân sự, Quân khu 3 sau Cách mạng Tháng Tám bao gồm Chiến khu 2 (Hữu Ngạn sông Hồng) và Chiến khu 3 (Tả Ngạn sông Hồng), tháng 2 năm 1948 hợp nhất thành Liên khu 3. Tháng 7 năm 1952, Liên khu 3 tách thành Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn. Tháng 7 năm 1956, Trung ương quyết định thành lập Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn. Tháng 12 năm 1963, Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn hợp nhất thành Quân khu 3. Tháng 3 năm 1967, Quân khu 3 lại tách ra thành Quân khu Hữu Ngạn và Quân khu Tả Ngạn. Tháng 6 năm 1976, Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn lại hợp nhất thành Quân khu 3. Tháng 12 năm 1987, Quân khu 3 hợp nhất với Đặc khu Quảng Ninh.
Tuy nhiều lần tách nhập, nhưng tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân các vùng, các khu, các quân khu vẫn luôn gắn bó chặt chẽ, dựa vào nhau, phối hợp với nhau, sống chết có nhau, không thể tách rời. Chính mối quan hệ hết sức đặc biệt đó đã góp phần tạo nên tầm vóc, vai trò chiến lược của Quân khu 3, tạo cho Quân khu 3 trở thành một trong những địa bàn tiêu biểu nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Hàng nghìn năm trước đây, từ thời đại các Vua Hùng dựng nước và giữ nước, người dân châu thổ sông Hồng với ý chí tự lực, tự cường, năng động, cần cù, sáng tạo đã biến vùng đất này thành những làng xóm trù phú, với nhiều làng nghề sản xuất thủ công, những trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội nổi tiếng, góp phần phát triển đất nước, tạo tiềm lực kinh tế, quốc phòng cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược.
Từ thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau, vùng đất này luôn xuất hiện những bậc kỳ tài, kiệt xuất, như Khúc Thừa Dụ, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Trương Hán Siêu, Lê Văn Hưu, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm và nhiều anh hùng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm vẻ vang lịch sử vùng châu thổ sông Hồng, là niềm tự hào của toàn dân tộc.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận ra sức xây dựng và bảo vệ quyền sống, quyền làm chủ của mình. Trong hàng trăm cuộc khởi nghĩa và hàng chục cuộc kháng chiến, người đồng bằng đã đóng góp mồ hôi, xương máu, trí tuệ và sức lực cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận nhất tề đứng lên chiến đấu kiên cường, với nhiều tấm gương tiêu biểu, như cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, cuộc khởi nghĩa của Đốc Tít, Đề Thám chống thực dân Pháp.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận nguyện đi theo Đảng, ra sức xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Từ năm 1939 đến năm 1945, các khu căn cứ và chiến khu cách mạng ra đời, như khu căn cứ Vạn Phúc, Mường Khói, La Dương trở thành an toàn khu của Xứ ủy Bắc kỳ và Trung ương, chiến khu Quang Trung (Chiến khu Hoà - Ninh - Thanh) ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá và chiến khu Trần Hưng Đạo (Đệ tứ chiến khu) ở Hải Dương, Quảng Yên làm nòng cốt cho nhân dân đồng bằng tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vùng châu thổ sông Hồng luôn là chiến trường ác liệt, nơi đọ sức gay go và quyết liệt nhất giữa ta và địch. Tại đây, thực dân Pháp luôn tập trung từ 30 đến 50% lực lượng quân sự của chúng trên toàn cõi Đông Dương, với phương tiện vũ khí hiện đại, áp dụng những thủ đoạn thâm độc, tàn bạo, nhằm đánh phá, bình định, lập tề, xây dựng khu trắng, vành đai trắng, với chính sách "Đốt sạch, phá sạch, giết sạch", hòng khuất phục tinh thần chiến đấu của quân dân ta. Song với ý chí "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc kỳ, Liên khu ủy, với sự phối hợp và kết hợp các hình thức đấu tranh quân sự và chính trị, các hình thức tác chiến của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong từng cơ sở và trên từng địa bàn, quân dân đồng bằng đã thực hiện bao vây và tiến công địch liên tục, ở mọi nơi, mọi lúc, đánh vào hậu cứ địch, nơi hiểm yếu, đánh giao thông, tiếp tế, đánh địch hành quân càn quét, đánh địch tạm dừng, thay quân, buộc địch phân tán đối phó. Nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh nổi tiếng đã diễn ra trên địa bàn Quân khu 3, như chiến dịch Lê Lợi, chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Quang Trung, chiến dịch Hoà Bình, chiến dịch Tây Nam Ninh Bình, những trận đánh trên đường 5, trận đánh sân bay Cát Bi... Với thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, quân dân Liên khu 3 đánh địch bằng lực lượng và sức mạnh tổng hợp, lấy ít đánh nhiều, đánh địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Địa bàn Liên khu 3 là nơi cuộc chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, là một điển hình thành công trong việc phá âm mưu chiến lược "Lấy chiến tranh, nuôi chiến tranh, dùng người Việt, đánh người Việt" của thực dân Pháp, giữ vững và không ngừng mở rộng vùng tự do, xây dựng hậu phương, bảo vệ nguồn cung cấp sức người, sức của tại chỗ và quyền làm chủ của ta ở vùng quan trọng của đất nước, đóng góp hàng triệu dân công, hàng trăm nghìn tấn lương thực, thực phẩm, thuốc men và hàng vạn thanh niên gia nhập quân đội, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 3 là căn cứ chiến lược chủ yếu của hậu phương quốc gia, là chiến trường trọng điểm trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Với khẩu hiệu hành động "Toàn quân khu hướng ra tiền tuyến", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt", với tinh thần "Mỗi người làm việc bằng hai", "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", "Tay lưới tay súng", quân và dân quân khu luôn chiến đấu giỏi, sản xuất tốt. Kể từ trận đầu đánh thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến khi kết thúc cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ tháng 12 năm 1972, quân và dân đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận đã bắn rơi 1.526 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 184 chiếc bị hạ bằng súng bộ binh của dân quân tự vệ, tiêu biểu là chiến công của dân quân Liên Hoà, Dương Hưu, Phú Lễ, Kim Đài, Thượng Kiệm, của các lão dân quân Hoằng Trường, của dân quân gái Hậu Lộc, Tiền Hải, Vĩnh Bảo... Trong những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân quân khu đã lập nên nhiều kỳ tích vẻ vang, góp phần to lớn cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, quân và dân Quân khu 3 cùng với tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lại một lần nữa góp phần cùng cả nước giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Từ năm 1986 đến nay, mặc dù tình hình thế giới có những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân châu thổ sông Hồng năng động, sáng tạo, đổi mới toàn diện cách nghĩ, cách làm. Các tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu đã thu được những thành tựu rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, làm chuyển biến toàn diện cả kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời đã đạt được nhiều kết quả trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, xây dựng tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã thành khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Tất cả những thành quả trên đã tạo ra tiền đề quan trọng để quân và dân châu thổ sông Hồng vững bước tiến vào giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Có thể khẳng định, từ năm 1945 đến năm 2010, qua chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành, Đảng bộ và các lực lượng vũ trang Quân khu 3 luôn thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, cùng đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trên địa bàn lập nên nhiều kỳ tích vẻ vang, tô thắm truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của người đồng bằng sông Hồng.
Đạt được những chiến công trên, trước hết là sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương, trực tiếp là Đảng ủy Quân khu và sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu với cấp ủy, chính quyền, nhân dân các tỉnh, thành phố trên địa bàn, cùng với sự năng động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu, tạo sức mạnh tổng hợp hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Để tái hiện và hệ thống lại một cách khách quan, toàn diện, chính xác vai trò và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Quân khu suốt 65 năm qua, thực hiện chỉ thị số 496 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ Quân đội và các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Quân đội, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo và tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình "Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3 (1945-2010)" gồm 3 tập. Sau khi hoàn thành ra mắt bạn đọc tập 1 "Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1955)" và tập 2 "Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3 thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 -1975)", Đảng ủy Quân khu tiếp tục chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, biên soạn tập 3 "Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 -2010)".
Nội dung cuốn lịch sử thể hiện những vấn đề cơ bản về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Quân khu 3 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2010), rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ hoạt động của Đảng bộ và lực lượng vũ trang quân khu hiện nay.
Quá trình chỉ đạo và tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình "Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 -2010)", Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu luôn nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Công trình được Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các tướng lĩnh lãnh đạo, chỉ huy Quân khu các thời kỳ, các nhân chứng lịch sử, các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, các cơ quan trong và ngoài quân đội cung cấp, thẩm định tư liệu, đóng góp ý kiến và giúp đỡ về chuyên môn. Đặc biệt, công trình được đồng chí Đại tướng Nguyễn Quyết - nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Tư lệnh, Chính ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 3;, đồng chí Đại tướng Phạm Văn Trà - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân khu 3 và đồng chí Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân khu nhiệt tình cung cấp tư liệu, đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Nhân dịp công trình được xuất bản, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 3 xin chân thành cám ơn các cơ quan và các đồng chí.
Nghiên cứu biên soạn lịch sử đảng bộ quân sự là một công việc rất mới và hết sức khó khăn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đòi hỏi sự đóng góp lớn về trí tuệ và công sức của các ngành, các cấp, các đơn vị, các địa phương và của các cán bộ hoạt động thực tiễn qua các thời kỳ. Vì vậy, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng công trình khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Rất mong các đồng chí và bạn đọc đóng góp ý kiến.
Đảng ủy Quân khu





Reviews
There are no reviews yet.