LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội là dịp để khẳng định vị thế Thủ đô Anh hùng và Văn hiến - Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người - Thành phố vì hoà bình với nhân dân cả nước và bạn bè thế giới. Đây cũng là dịp để các nhà khoa học đẩy mạnh việc nghiên cứu, khái quát các giá trị từ chiều sâu lịch sử truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta trên vùng đất địa linh nhân kiệt này. Trong sự nghiên cứu toàn diện đó, việc tiếp cận hệ giá trị văn hoá Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử và hiện tại là đặc biệt cần thiết nhằm đóng góp các luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước xây dựng chiến lược bảo vệ Thủ đô trong thời kỳ mới, góp phần chỉ đạo hoạt động thực tiễn kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đẩy mạnh quốc phòng - an ninh của Thủ đô Hà Nội ngang tầm với vị trí chiến lược trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tiếp cận lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở phương pháp luận khoa học còn nhằm chống lại những nhận thức sai lầm, những luận điệu phản tuyên truyền của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc vị trí, vai trò, tầm quan trọng chiến lược của Thăng Long - Hà Nội, hoặc phủ nhận giá trị chân chính của sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử và hiện tại.
Với ý nghĩa đó cuốn sách "Hệ giá trị văn hoá Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử giữ nước của dân tộc" của các tác giả PGS, TS Nguyễn Văn Tài và PGS, TS Văn Đức Thanh đã dựa trên cơ sở lý luận khoa học tổng hợp, đặc biệt là góc nhìn lôgíc - lịch sử để phân tích sự gắn bó hữu cơ giữa lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội với lịch sử hình thành và phát triển quốc gia, dân tộc Việt Nam.
Việc tiếp cận hệ giá trị Thăng Long - Hà Nội được dựa trên xuất phát điểm là vị trí chiến lược của Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử, cũng như tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ, giải phóng vùng đất này. Các tác giả đã dựa trên cơ sở phân tích khá toàn diện các yếu tố đồng đại và lịch đại, khái quát hệ giá trị văn hoá quân sự phong phú, đa dạng, có bề dày truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc và phản ánh khá rõ nét đặc trư¬ng của vùng đất, con người Thăng Long - Hà Nội. Đó là những chiến công, sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử quân sự tiêu biểu cùng sự đóng góp tài năng và tư¬ tư¬ởng quân sự đặc sắc, những bài học kinh nghiệm lịch sử mang tính xuyên suốt… Sự đối sánh với kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn bảo vệ thủ đô của các nư¬ớc đư¬ơng đại càng làm nổi bật các giá trị văn hoá quân sự của sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội đã đư¬ợc khái quát. Đặc biệt, việc minh chứng cho hệ giá trị văn hoá quân sự của Thăng Long - Hà Nội đã đ¬ược các tác giả cuốn sách thực hiện thông qua sự l¬ược khảo một số trận đánh tiêu biểu trong lịch sử, từ thời đại phong kiến đến thời đại Hồ Chí Minh. Đồng thời, cuốn sách cũng đề xuất những vấn đề cơ bản về phát huy hệ giá trị văn hoá quân sự ấy trong sự nghiệp bảo vệ Thủ đô Hà Nội hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc!
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
LỜI TỰA
Việt Nam là một quốc gia dân tộc mà quy luật tồn tại và phát triển quan trọng nhất là dựng nước đi đôi với giữ nước, trong đó vấn đề bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội có tầm quan trọng đặc biệt, mang ý nghĩa sống còn đối với cả quốc gia dân tộc. Trong chiều dài lịch sử, sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội luôn là nơi hội tụ sáng ngời tiêu biểu cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của toàn dân tộc. Dưới góc độ nhất định, có thể nói hầu như toàn bộ lịch sử thành văn của dân tộc ta đều hiện diện ở đây. Thành thử, việc nghiên cứu thấu đáo về sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội chính là đột phá vào một trong những mắt xích chủ yếu nhất trong toàn bộ lịch sử đấu tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc ta, cho phép người nghiên cứu có được những dữ liệu lịch sử đầy đủ hơn cả.
Gần đây, có những nhà Việt Nam học người nước ngoài khi tìm hiểu về những nét độc đáo trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh tự giải phóng và chiến tranh tự bảo vệ của dân tộc ta, đã lý giải nhiều khía cạnh thiên về thuần quân sự, do vậy không thể cắt nghĩa nổi tại sao một quốc gia dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng đã đứng vững suốt mấy nghìn năm trước những đội quân xâm lược hùng mạnh, thiện chiến. Trên thực tế, lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta không chỉ là lịch sử quân sự, mà là dòng chảy tổng hợp của thế nước địa linh nhân kiệt, của tinh thần yêu nước và nhân văn, của sức mạnh đạo lý thắng hung tàn… mà trên nền đó nghệ thuật quân sự mới phát huy được. Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự nghiệp bảo vệ, giải phóng đất nước của dân tộc Việt Nam nói chung và sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội nói riêng nhất thiết phải dựa trên nền tảng lý luận khoa học tổng hợp, trong đó việc nghiên cứu hệ giá trị văn hoá quân sự của sự nghiệp ấy là một hướng tiếp cận cần thiết.
Thời kỳ dựng nước, dân tộc ta đã từng có nền văn minh phát triển rực rỡ, trong đó đất Cổ Loa đã được An Dương Vương chọn làm nơi định đô. Trong đêm trường nô lệ của nghìn năm Bắc thuộc, các cuộc đấu tranh bền bỉ chống đồng hoá và các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ liên tục diễn ra trên vùng đất này. Khi Ngô Quyền thắng trận trên sông Bạch Đằng, mở ra kỷ nguyên độc lập và tái định đô tại Cổ Loa thì sự nghiệp bảo vệ, giải phóng miền đất này từ đây đã thực sự mang hình hài của cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Các triều đại Đinh, Tiền Lê tuy định đô ở Hoa Lư, song vẫn xem miền đất này là một tiền đồn quan trọng bậc nhất.
Nhìn ra được vị thế thắng địa, chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước và thế rồng bay của vùng Đại La, Lý Công Uẩn đã sáng suốt dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đặt tên Thăng Long, để khi đối mặt với quân xâm lược Tống, nhà Lý hoàn toàn giữ quyền chủ động chiến lược. Nhà Trần tiếp nối nhà Lý đã tiếp tục khẳng định bản lĩnh, ý chí tự chủ và tinh thần quyết chiến quyết thắng của Thăng Long - Hà Nội khi ba lần đánh tan quân xâm lược Mông - Nguyên, đội kỵ binh bách chiến bách thắng đã từng tung vó ngựa suốt từ Đông sang Tây mà chưa hề gặp đối thủ. Sau thất bại để mất nước của nhà Hồ, Lê Lợi mở đầu cuộc kháng chiến chống ách đô hộ của quân Minh xâm lược với tư cách thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn, và kết thúc chiến tranh tại Thăng Long - Hà Nội bằng Hội thề Đông Quan buộc nhà Minh chấp nhận thất bại. Nguyễn Huệ từ một anh hùng nông dân nổi dậy chống áp bức trở thành anh hùng giải phóng dân tộc tại Thăng Long - Hà Nội bằng cuộc hành binh thần tốc để đánh tan hai mươi chín vạn quân Thanh. Lịch sử đã ghi nhận những chiến công, tài năng, anh hùng, nhân vật lịch sử quân sự và những bài học kinh nghiệm quý báu trong hàng nghìn năm trị vì của thời đại phong kiến Việt Nam tự chủ, trong đó có những giá trị văn hoá quân sự tiêu biểu của sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội.
Khi chế độ phong kiến Việt Nam đến lúc suy tàn, thì điều đáng chú ý là nơi đánh dấu đậm nét nhất của sự suy tàn ấy không đâu khác chính là Thăng Long - Hà Nội. Từ sự thất thủ thành Hà Nội mà nhà Nguyễn bộc lộ hoàn toàn sự suy vong cả về thể chế chính trị, cả về duy trì sức mạnh giữ nước. Không chùn bước trước những pháo hạm và đội quân viễn chinh của thực dân Pháp xâm lược, tại Thăng Long - Hà Nội đã có nhiều danh nhân với tư tưởng lớn và các phong trào yêu nước, song con đường cứu nước, cứu dân như thế nào, cứu từ đâu, cứu ra sao… vẫn tìm chưa ra, chưa đúng. Đến đây, lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội nói riêng, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, đặt ra đòi hỏi tất yếu phải có lực lượng lãnh đạo thực sự tiên tiến.
Và đến khi xuất hiện một danh nhân vĩ đại, Anh hùng giải phóng dân tộc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, gắn liền với sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thì bài toán ấy đã tìm ra được lời giải. Sự xuất hiện tổ chức chính trị tiên tiến nhất, bộ tham mưu của giai cấp công nhân Việt Nam, như một quy luật tất yếu đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam. Con đường cách mạng Việt Nam phải là con đường bạo lực cách mạng, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân - một con đường mới được chính con người Việt Nam quyết định. Cách mạng Tháng Tám thành công mà điểm nhấn mang tính quyết định là cuộc mít-tinh tuần hành giành chính quyền tại Hà Nội là minh chứng rực rỡ cho con đường cách mạng đúng đắn đó.
Công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ gắn liền với những hoạt động phong phú và đầy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thời điểm nghìn cân treo sợi tóc của đất nước. Bằng đức độ tuyệt vời và trí tuệ thiên tài, Người đã tập hợp và phát huy sức mạnh phi thường của cả dân tộc, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh. Ngay trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách là chống nạn đói, chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác, xoá bỏ các thứ thuế vô lý, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết, xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chức bầu cử Quốc hội. Người đặc biệt chăm lo xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Người rất coi trọng tình đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới. Khi quân Đồng minh vào Đông Dương với danh nghĩa tước khí giới quân Nhật, Người đã cùng Đảng ta thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt: lúc thì tạm hoà với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp, lúc thì tạm hoà hoãn với Pháp để đuổi Tưởng và tranh thủ củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến, điều mà Người biết chắc chắn không thể tránh khỏi.
Nhân dân Hà Nội đã chứng kiến những hành động ngoại giao hết sức phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh để cố tránh một cuộc chiến tranh. Với lòng khát khao mong muốn hoà bình của nhân dân Việt Nam, Người đã làm hết sức mình, đã nhân nhượng tới giới hạn cuối cùng khi ký Tạm ước 14 tháng 9 để cố kéo dài thời gian hoà bình, đồng thời chỉ thị phải cảnh giác, chuẩn bị lực lượng và vật chất, tư tưởng và tinh thần cũng như kế hoạch chu đáo để có thể nắm quyền chủ động hoàn toàn. Khi chiến tranh tới gần, Người tổ chức căn cứ địa kháng chiến ở Việt Bắc, viết nhiều bài xác định tư tưởng chỉ đạo phương hướng kháng chiến và bồi dưỡng lý luận quân sự cho quân và dân ta. Người biểu dương thành tích huấn luyện, theo dõi và chỉ đạo chặt chẽ cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội, kịp thời khen ngợi những chiến sĩ quyết tử, động viên đồng bào tản cư cũng là kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và quân dân Hà Nội đã lập bao chiến công chói lọi, từng bước góp phần hình thành và phát triển tư tưởng quân sự cách mạng của nước Việt Nam mới trong mở đầu toàn quốc kháng chiến và trong kết thúc cuộc kháng chiến thắng lợi tại Thủ đô. Sự nghiệp vẻ vang ấy đã để lại những giá trị văn hoá quân sự sâu sắc.
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết tháng 7 năm 1954, đế quốc Mỹ vi phạm Hiệp định, hất cẳng Pháp, dựng chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam nước ta. Nhân dân Việt Nam cùng lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Từ Hà Nội, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng ngày hàng giờ theo dõi, lãnh đạo cách mạng trên cả hai miền; và đồng bào, chiến sĩ cả nước hướng về Thủ đô để gửi gắm niềm tin, hy vọng. Trước thử thách vô cùng cam go, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra những vấn đề chiến lược cách mạng chung của cả nước, trong đó có Nghị quyết Trung ương 15 xác định con đường cách mạng ở miền Nam. Thủ đô Hà Nội lúc này không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và giáo dục… của cả nước, mà còn là tổng hành dinh lãnh đạo, chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thực hiện nhiều chiến lược tàn bạo: tố cộng, diệt cộng (1955 -1960), chiến tranh đặc biệt (1961-1965), chiến tranh cục bộ (1965-1968) và Việt Nam hoá chiến tranh (1969-1975), đồng thời tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc hòng xoá bỏ hậu phương lớn. Đặc biệt, chúng đánh thẳng vào Thủ đô Hà Nội hòng gây sức ép với Đảng và Nhà nước, làm lung lay ý chí quyết tâm kháng chiến của nhân dân ta, đồng thời làm giảm sút tiềm lực kinh tế nhằm hạn chế khả năng chi viện của miền Bắc. Đánh phá Hà Nội, địch cũng nhằm triệt tiêu nguồn lực trí tuệ khoa học hàng đầu của ta đang tập trung tại đây, đồng thời muốn cô lập Việt Nam và phô trương sức mạnh quân sự nhằm răn đe các lực lượng cách mạng thế giới, vì Hà Nội là nơi tập trung cơ quan ngoại giao của các nước có quan hệ với Việt Nam.
Trước hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, đặc biệt cuộc chiến tranh phá hoại bằng lực lượng không quân mạnh nhất thế giới và là loại hình chiến tranh chưa hề có trong lịch sử, Đảng ta vẫn tỏ rõ quyết tâm và xác định những chủ trương chiến lược kịp thời, đúng đắn. Trung ương đã xác định: chuyển hướng toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của Thủ đô và đất nước từ trạng thái hoà bình sang chiến tranh để ổn định và phát triển, đồng thời kiên quyết tổ chức đánh bại chiến tranh phá hoại của địch ngay trên bầu trời Thủ đô; phát động chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại; nhanh chóng phát triển lực lượng phòng không - không quân; tập trung mọi nỗ lực bảo vệ các hoạt động tiếp tế, chi viện chiến trường, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". Việc tổ chức và phát động chiến tranh nhân dân Thủ đô chống tập kích đường không của địch được tiến hành khẩn trương, chu đáo với phương châm chủ động phòng tránh và kiên quyết đánh trả. Hà Nội đã hiên ngang quật ngã "pháo đài bay" Mỹ, và đã cùng với hậu phương lớn miền Bắc đứng vững trong khói bom thù.
Sau khi miền Nam được giải phóng và cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta vẫn phải đối phó với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ kết hợp với sự đe doạ can thiệp vũ lực bằng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch và các "vấn đề" dân tộc, tôn giáo, nhân quyền... mà chủ nghĩa đế quốc tung ra. Thủ đô Hà Nội là một trong những mục tiêu trọng điểm hàng đầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hòng chống phá quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khối đại đoàn kết dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang tiến hành. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của đất nước cũng như của Thủ đô nảy sinh những khó khăn, ảnh hưởng tới sự nghiệp bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Tầm vóc và vị thế của Việt Nam cùng Thủ đô Hà Nội ngày càng được khẳng định trong khu vực và thế giới. Song, ta cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề nhạy cảm, thêm vào đó, bối cảnh thế giới và khu vực đang có nhiều biến động phức tạp.
Để bảo vệ vững chắc Thủ đô, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, cùng với việc tập trung phát triển kinh tế - xã hội, cần tiếp tục củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phòng chống có hiệu quả chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch. Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển vũ bão của thời đại, vấn đề bảo vệ sự tồn vong của chế độ, trực tiếp là bảo vệ thủ đô, các nước sẽ phải tính đến chiến lược nào, phát triển theo định hướng nào, dựa trên cơ sở tiền đề nào và sử dụng tiềm lực, lực lượng của đất nước ra sao…
Nghiên cứu những vấn đề thực tiễn đương đại để tích hợp với những bài học kinh nghiệm lịch sử truyền thống của dân tộc sẽ giúp cho chúng ta rút ra những vấn đề cực kỳ quý giá nhằm bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội. Thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến những chuyển biến cực kỳ lớn lao trong lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra thời đại mới cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội. Chính sự phát triển vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa Xôviết - thành quả của Cách mạng Tháng Mười - đã trực tiếp góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát-xít, cứu nhân loại khỏi thảm hoạ diệt vong trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tạo thời cơ cho hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ra đời, hàng loạt nước giành độc lập dân tộc. Song, chính do sự trì trệ về kinh tế - xã hội, sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc bằng những thủ đoạn mới, cùng sai lầm của các Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã khiến cho nhân loại phải chứng kiến thảm cảnh tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vào cuối thế kỷ.
Thời đại hiện nay cũng là thời đại diễn ra cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại với những bước tiến căn bản cả về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhất là khoa học công nghệ, làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế - xã hội của thế giới. Lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt và buộc quan hệ sản xuất phải có những cải cách tương ứng. Khoa học tham gia trực tiếp sản xuất, trở thành lực lượng kinh tế và hình thành kinh tế tri thức - một điểm nhấn mới trong lịch sử nhân loại. Thay vào những vấn đề mà từng dân tộc có thể và phải tự giải quyết là những vấn đề toàn cầu. Toàn cầu hoá bao hàm cả cơ hội và thách thức lớn. Sự phát triển khoa học công nghệ nhanh và lớn đến mức việc thích ứng với nó trở thành tiêu chí cứng thử thách sức sống các chế độ chính trị, và chủ nghĩa tư bản đã thực hiện được để tiếp tục phát triển.
Cùng với việc chịu đựng hai cuộc chiến tranh thế giới bằng vũ khí thông thường, thế kỷ này cũng diễn ra nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế… Đặc biệt, vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, nhân loại phải giật mình trước ba vấn đề lớn: một là chiến tranh công nghệ cao do chủ nghĩa đế quốc tiến hành, với bộ mặt "chiến tranh sạch" nhưng đằng sau là hiểm hoạ hơn tất cả các hiểm hoạ trước; hai là "diễn biến hoà bình" cũng của chủ nghĩa đế quốc, cái công cụ đã làm tan rã cường quốc từng là thành trì của hoà bình và cách mạng thế giới, điều mà các cuộc chiến tàn khốc trước đó của chủ nghĩa phát-xít không thể làm nổi; ba là "cách mạng sắc màu" - sự cộng sinh giữa "diễn biến hoà bình" và bạo loạn chính trị - mà tác giả không ai khác chính là chủ nghĩa đế quốc, một công cụ khác giải quyết nốt phần còn lại của chiến tranh công nghệ cao và "diễn biến hoà bình".
Điều đó đòi hỏi sự nghiệp bảo vệ Thủ đô Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại hiện nay phải đối sánh, tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm quốc tế đương đại, tính đến sự tác động của những nhân tố mới và yêu cầu giải quyết các tình huống chiến lược mới. Chỉ như vậy mới tích hợp được với truyền thống lịch sử, làm giàu cho hệ giá trị văn hoá quân sự của Thăng Long - Hà Nội, làm cho quá trình nhận thức, phát triển, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm lịch sử vừa dựa chắc trên nền tảng truyền thống, vừa thấm đậm hơi thở hiện đại và ngày càng vươn tới tầm cao thời đại. Việc tổng kết thực tiễn lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội không chỉ nhằm khơi dậy niềm tự hào của miền đất và con người ở đây, mà còn là động lực nhân lên nhiều lần sức mạnh vật chất và tinh thần của Thủ đô Hà Nội trong hiện tại và tương lai.
Trong toàn bộ tiến trình lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội, những giá trị văn hoá - lịch sử quân sự không bao giờ nằm sâu trong tiềm thức người dân, mà đều được hiện thực hoá một cách sống động thông qua những trận đánh tiêu biểu bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội. ở thời đại nào cũng vậy, về giá trị hữu hình, đó thực sự là những trận đánh mang tính quyết chiến chiến lược, cho phép làm chuyển hoá tình thế cuộc chiến đấu bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội, và về giá trị phi hữu hình, đó là sự hội tụ tiêu biểu cho ý chí và trí tuệ người Việt, với tư cách một dân tộc luôn phải "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều". Có thể nói, sự phát triển cực kỳ mạnh mẽ của tư duy quân sự - quốc phòng Việt Nam được đúc rút tiêu biểu từ những trận đánh tiêu biểu bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội xuyên qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc.
Nghiên cứu về hệ giá trị văn hoá quân sự của từng thời kỳ lịch sử và những trận đánh tiêu biểu xuyên suốt lịch sử sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội chỉ có giá trị hiện thực khi được đặt trong quá trình hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, quân và dân Thủ đô hiện nay nhằm phát huy cao độ những giá trị văn hoá quân sự đó phù hợp với điều kiện mới. Đó là quá trình giáo dục nâng cao nhận thức đúng đắn về các giá trị văn hoá quân sự, tiếp tục phát triển, bổ sung những giá trị mới vào hệ giá trị văn hoá quân sự Thăng Long - Hà Nội, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm lịch sử nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chiến lược bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Đương nhiên, nghiên cứu sự nghiệp bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội chỉ có ý nghĩa hiện thực đối với sự nghiệp bảo vệ Thủ đô hiện nay khi được đặt trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về một loạt vấn đề quan trọng như: những nguyên tắc khoa học tiếp cận lịch sử; những nguyên lý lý luận về chiến tranh và quân đội; những quan điểm về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, để hoạch định chiến lược xây dựng và bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ mới, cần tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và những công trình tổng kết thực tiễn.
Nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, các tác giả cuốn sách mong muốn góp phần làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu toàn diện về vị trí chiến lược của Thủ đô Hà Nội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục về vị trí, vai trò quan trọng của Thủ đô trong lịch sử và hiện tại. Hơn nữa, nghiên cứu về lịch sử bảo vệ, giải phóng Thăng Long - Hà Nội vừa nhằm khẳng định những giá trị khoa học chân chính, vừa thể hiện trách nhiệm và tình cảm đối với truyền thống lịch sử, đối với hiện tại và đối với các thế hệ tương lai của Thủ đô thân yêu.
Cùng tham gia đóng góp tư liệu để hoàn thành cuốn sách còn có sự cộng tác của các nhà khoa học như TS Nguyễn Như Hoạt, TS Nguyễn Văn Thân, PGS, TS Trịnh Vương Hồng, TS Nguyễn Đình Chiến, TS Hoàng Hoa Châu, Đại tá Trịnh Ngọc Nghi, Đại tá Nghiêm Đình Tích, TS Lê Văn Thái… Đương nhiên, do chính tính chất cực kỳ phong phú của đối tượng nghiên cứu, sự cần thiết phải xử lý một khối lượng tư liệu lịch sử lớn và còn có nhiều điểm chưa thật rành mạch về mặt sử liệu, do đó cuốn sách sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Các tác giả cuốn sách chân thành đón nhận sự đóng góp ý kiến của quý độc giả để tiếp tục hoàn thiện cho các lần xuất bản sau.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Tài
Đại tá, PGS, TS Văn Đức Thanh




Reviews
There are no reviews yet.