Tôi gia nhập quân đội vào giữa tháng 7-1947 tại Thái Nguyên cùng ngày với nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, họa sĩ Dương Bích Liên. Lúc ấy tôi hai mươi bốn tuổi. Trước đó, ba chúng tôi cùng với một số văn nghệ sĩ khác là thành viên của Đoàn Văn hóa kháng chiến Việt Bắc, trụ sở Đoàn đóng tại một làng bên hữu ngạn sông Thao (Phú Thọ).

Một buổi chiều, sau mấy ngày đi đường, theo như hẹn trước chúng tôi đến Quán Vuông gần Chợ Chu sẽ có người đón, tình cờ có cả một cô khoác ba lô gặp giữa đường, không quen biết, tên là Thái, y tá. Một đồng chí trẻ tuổi đưa chúng tôi vào địa điểm đóng quân. Đã là rừng núi rồi, nhiều suối, nhiều đèo, nhà sàn mái lá cọ, tre, vầu, nứa mọc um tùm, đồng bào mặc quần áo chàm, nói chuyện với nhau chúng tôi không hiểu gì cả. Đến nơi, đó là một bản nhỏ gồm mươi nóc nhà, có cầu thang gỗ, trên ở, dưới buộc trâu và có tên mà chúng tôi nghe thấy lạ là bản Búc. Bản này thuộc xã Định Biên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Các đồng chí Lê Tất Đắc, Trần Độ, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Ngô Điền lúc ấy có mặt niềm nở ra đón. Đầu tiên ở nhà sàn, ở giữa có bếp đỏ lửa suốt ngày đêm, kể cũng thú vị. Đơn vị chúng tôi đến thuộc Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam (thường gọi lúc đó là Chính trị Cục), nay là Tổng cục Chính trị. Cục có Phòng Tuyên truyền, Báo “Vệ Quốc quân” thuộc phòng này do đồng chí Trần Độ phụ trách, Phòng Huấn luyện và có nhà in ở bản gần đấy; nhà in có mấy cái máy nhỏ đạp chân. Cục trưởng lúc đó là đồng chí Văn Tiến Dũng thường đi ngựa đến bàn việc với các bộ phận. Họa sĩ Dương Bích Liên và tôi được phân công về báo để trình bày và minh họa. Vào ngày 7-10-1947, giặc Pháp bất ngờ nhảy dù và tấn công Việt Bắc. Toàn bộ cơ quan rút sâu vào một chút ở bản Vẹ, lại làm việc như thường lệ. Vào cuối tháng 10-1947, tôi tham gia một đoàn công tác do đồng chí Trần Độ dẫn đầu qua nhiều tỉnh đã tiêu thổ kháng chiến, cuối năm mới trở về. Vào thời gian đó, chưa có nhà xuất bản riêng. Do ít người, các phòng cử người lo chung. Cũng đã có ra sách, sách mỏng, bìa cũng mỏng, giỏi lắm thì in hai màu, đỏ và đen. Do yêu cầu ra sách nên cần có hình vẽ gì đó mà những đồng chí theo tiếng Pháp thì gọi là “ăm blem” (embleme), tức là biểu trưng bây giờ, để in vào bìa sách cho nó riêng biệt, biết nơi xuất xứ. Việc đó các đồng chí phân công cho tôi. Vì đã lâu, tôi không nhớ rõ là vẽ biểu trưng đó vào trước hay sau đi công tác về.

Tôi chưa hề vẽ biểu trưng bao giờ nên cũng khá lúng túng, đã phác thảo ra nhiều cái, thấy cái nào cũng rườm rà, cái gì cũng muốn đưa vào, ý không rõ mà tứ thì lại mông lung, giá mà vẽ cái phong cảnh sông núi thì dễ hơn. Suy đi nghĩ lại mấy ngày, tôi chợt nghĩ ra phải tìm cái gì thật cô đọng, thật tượng trưng mới được và hình ảnh dần dần hiện ra. In sách là phải có cuốn sách, bộ đội là phải có vũ khí và tất cả là phải có sự lãnh đạo của Đảng cho nên phải có ngôi sao năm cánh. Ý là như vậy nhưng việc quan trọng là phải sắp xếp bố cục các yếu tố đó lại thành một hình vũ thuận mắt và chỉ được to bằng khuôn khổ một phần sáu bề mặt bao diêm hoặc bằng một đốt ngón tay trỏ. Lúc ấy làm gì có máy móc phóng to, thu nhỏ để được chính xác, tinh vi.

Thế là tôi vẽ một cuốn sách mở rộng, dáng đứng có khẩu súng nằm chéo cả hai trang, nòng hơi chếch lên, và trên góc cao bên phải trang sách có ngôi sao năm cánh và quai súng như mắc vào đấy. (Ai chú ý đến sách nói chung thì thấy rằng trang đầu bên phải bao giờ và lúc nào cũng là trang số 1). Và dưới cùng là ba chữ V.Q.Q (Vệ Quốc quân) sau chuyển Q.Đ.N.D (Quân đội nhân dân).

Sau khi được thông qua, tôi đưa đến nhà in để khắc. Hình vẽ từ trên giấy tàu bạch, khá mỏng, gỗ khắc phải là gỗ thừng mực, không có thớ và mịn, dễ khắc, dễ in… Nhà in lúc ấy có hai đồng chí thợ khắc rất giỏi tên là Đức và Lộc, có thể khắc những nét nhỏ như sợi tóc…

Tôi nghĩ, nếu tôi không vẽ cái biểu trưng đó thì thế nào cũng có người khác vẽ vì là công việc cần và phải có của Nhà xuất bản, có thể có ý nghĩa hơn, đẹp hơn.

Nhân đây chuyện vui có liên quan đến hình vẽ biểu trưng ấy. Có người nói cái biểu trưng này vẽ theo ý tên tập thơ “Đầu súng trăng treo” của nhà thơ quân đội nổi tiếng Chính Hữu. Thực ra tập thơ đó xuất bản sau hòa bình lập lại (1954) và chính tôi lại là người vẽ bìa cho tập thơ đó do đồng chí Chính Hữu yêu cầu vì là bạn thân. Cái bìa ấy không hay và đẹp như những bài trong tập thơ của tác giả quen thuộc. Lại có người nói đùa, không khéo ông Chính Hữu lại dựa vào biểu trưng do ông Hiến vẽ mà đặt tên cho tập thơ cũng không biết chừng.

Mấy chục năm đã qua, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã lớn mạnh, với Ban Giám đốc, Ban biên tập có trình độ, có nhà in hiện đại, cho ra đời nhiều đầu sách hay, đẹp, giá trị, trở thành một Nhà xuất bản có nhiều uy tín, đáng tin cậy.

Trên mỗi cuốn sách, dù dày, mỏng thấy biểu trưng Nhà xuất bản, một biểu trưng có cuộc sống khoảng năm mươi năm, tôi rất vui, cảm động nhớ tới những đồng chí làm sách đầu tiên không còn nữa và tôi hết sức biết ơn Nhà xuất bản, một Nhà xuất bản được thành lập trên núi rừng Việt Bắc và giữ mãi truyền thống rực rỡ đến tận hôm nay.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *