Nhà văn Chu Lai là một tiểu thuyết gia gạo cội với 14 tác phẩm đồ sộ viết về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Năm 2016, ông đặc biệt thành công với tiểu thuyết “Mưa đỏ” giành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân Ngày Sách Việt Nam 21-4, Tạp chí Văn hóa quân sự có cuộc trao đổi về sự gắn bó giữa ông – người viết chuyên nghiệp với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (QĐND) nơi “bà đỡ” cho các tác phẩm của ông suốt bốn mươi năm qua. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

– Thưa nhà văn Chu Lai! Đã mấy chục năm cầm bút và cũng mấy chục năm cộng tác với Nhà xuất bản QĐND, ông có thể giúp bạn đọc hình dung về cái thuở ban đầu cầm bút và cơ duyên với Nhà xuất bản QĐND của ông như thế nào?

– Đúng là nhanh quá! Thế mà đã hơn bốn chục năm rồi. Kỷ niệm ban đầu với Nhà xuất bản QĐND với tôi là năm 1976, tức là chiến tranh vừa kết thúc chưa lâu, chúng tôi, hơn hai mươi cây bút trẻ chưa phải là nhà văn – là những lính chiến từ khắp các quân binh chủng được Tổng cục Chính trị triệu tập về trại viết văn ở Đà Lạt để viết và tác phẩm sẽ được Nhà xuất bản QĐND thu nhận trực tiếp để xuất bản. Trong trại viết đó có những cái tên đã khá nổi tiếng lúc bấy giờ như Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Lê Lựu, Trần Đăng Khoa… Quản lý trại viết có các anh Hồ Phương, Xuân Thiều, Xuân Miễn. Chúng tôi hầu hết đều trẻ măng, chưa vợ, cùng hành quân về Đà Lạt với một tâm trạng háo hức lắm. Mục tiêu là viết để có tác phẩm cho Nhà xuất bản QĐND. Và Nhà xuất bản QĐND cử một người đi theo là Trung úy Vũ Thị Hồng, biên tập viên, một người cũng ở chiến trường ra. Trên xe coi như toàn những người ở trong rừng ra…

Nhà văn Chu Lai tại buổi Giao lưu chào mừng ngày sách Việt Nam 21-4 và giới thiệu tiểu thuyết “Mưa đỏ” của Nhà văn, ngày 8-4-2016

– Tại đây ông đã cho ra đời “Nắng đồng bằng”, một tiểu thuyết đầu tay rất thành công?

– Đúng rồi. “Nắng đồng bằng” ra đời ở đây. Lúc đó như thế này. Trên chuyến xe đó tất cả các cây bút đều chưa vợ, nhưng cơ duyên thế nào mà mình với Vũ Thị Hồng ngồi cạnh nhau. Qua đèo Hải Vân, một bên núi rừng một bên biển biếc, ngắm nhìn Hồng, mình cảm nhận cái đẹp hút hồn từ đôi mắt xanh biếc, cảm hứng làm một câu thơ “Biển xanh đựng nắng đổ vào mắt em…”. Và tình yêu của chúng tôi nảy nở từ đó. Rồi đến trại viết Đà Lạt, nhờ tình yêu đó nó mới vỡ ra một kỷ lục viết văn khi tôi viết “Nắng đồng bằng”. Ý định viết tiểu thuyết này thì tôi sẽ phải mất một năm, hai năm thậm chí là ba năm, nhưng bất ngờ là chỉ viết trong vòng một tháng ở Đà Lạt. Vũ Thị Hồng là biên tập viên nên phải sâu sát đến từng tác giả. Nhưng với tôi là người “cá biệt” với cô ấy. Thế nên cô ấy “giao khoán” cho tôi là mỗi ngày phải viết xong một chương, để cứ đến tối thì lại sang đọc cho cô ấy nghe để góp ý sửa chữa luôn. Một chương là khoảng trên dưới 30 trang viết tay. Mà chương nào tôi cũng viết đầy cảm xúc, một thứ cảm xúc tươi xanh. Chữ nghĩa thì tràn trề tươi mới của một người đang yêu, viết lấy viết để. Viết như có một ma lực nào đó nhập hồn. Đúng là vừa sống, vừa yêu, vừa viết, tạo ra một kỷ lục về tốc độ viết văn: Ba mươi ngày viết xong tiểu thuyết ba mươi chương! Mà đến bây giờ, sau hàng chục tiểu thuyết tôi đã cho “ra lò” thì độc giả vẫn cho rằng “Nắng đồng bằng” là tác phẩm người ta thích hơn vì nó lãng mạn, tươi mới, trẻ trung dù còn có thể là ngô nghê của một cây bút mới bập vào tiểu thuyết. Sau đó, khi “Nắng đồng bằng” được Nhà xuất bản QĐND cho ra mắt bạn đọc thì cũng là lúc tôi kết hôn với biên tập viên Vũ Thị Hồng. Quả là một kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ của tôi với Nhà xuất bản QĐND, với người bạn đời, cũng là đồng nghiệp của tôi: Nhà văn, biên tập viên Vũ Thị Hồng…

Các tác phẩm của Nhà văn Chu lai

– Vâng, phải chăng vì câu chuyện tình đẹp như mơ đó mà sự nghiệp sáng tác của ông gắn bó chặt chẽ với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân suốt hơn bốn chục năm qua?

– Đúng rồi. Sau khi cưới thì vợ tôi vẫn làm biên tập viên của Nhà xuất bản QĐND và tôi về Tạp chí Văn nghệ quân đội. Chồng sáng tác thì vợ biên tập. Và tất nhiên sau rất nhiều tác phẩm kể cả tập truyện ngắn và tiểu thuyết của tôi được chuyển đến Nhà xuất bản QĐND thì không chỉ có riêng vợ tôi biên tập mà tôi còn được làm việc trực tiếp với nhiều biên tập viên khác để cho ra đời những tác phẩm mới. Sau khi hoàn thành mỗi bản thảo, tôi đều gửi đến Nhà xuất bản QĐND, bởi tôi thủy chung với một đề tài người lính và chiến tranh, mặt khác nơi này tôi đã dành niềm tin yêu trọn vẹn…

– Ngoài người vợ yêu quý thì ông có ấn tượng như thế nào với những “bà đỡ” cho những tác phẩm của ông ở đây, thưa ông?

– Cũng như những người cầm bút khác, tôi luôn rất hiểu, chia sẻ với những nhọc nhằn của nghề biên tập và rất cảm ơn người biên tập. Người tôi đặc biệt ấn tượng phải kể đến bác Vũ Sắc. Có thể nói rằng đội ngũ biên tập viên, nhất là biên tập viên văn học của Nhà xuất bản QĐND rất tận tụy, chuyên nghiệp, mà bác Vũ Sắc là người tỉ mỉ, chỉn chu, tận tụy, sâu sắc số một. Có thể so với những biên tập viên cả ngành xuất bản chứ không riêng gì Nhà xuất bản QĐND. Dù bác ấy chỉ biên tập trực tiếp của tôi một tập truyện ngắn, nhưng lại cho tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi còn nhớ một dạo ngoài viết theo sự sáng tạo cá nhân thì có cả viết theo đặt hàng. Thời ấy vợ chồng tôi nghèo lắm, không đủ tiền mua sữa nuôi con. Được bác Vũ Sắc giới thiệu đi viết về Nông trường Mộc Châu theo yêu cầu của họ. Hai vợ chồng ôm con lên Mộc Châu để “cày”, và ở đấy cũng lại tạo ra một kỷ lục về sự viết nhanh, viết khỏe: Chỉ trong có ba ngày ba đêm mà hai vợ chồng viết được 150 trang bản thảo! Viết đến sã cánh tay. Và khi xong bản thảo để thông qua lãnh đạo nông trường thì thật bất ngờ là tất cả đều khóc, bản thân tác giả vừa đọc cũng vừa sụt sùi nước mắt vì những trang viết đầy cảm xúc. Bác Vũ Sắc, người biên tập viên mẫn cán, tốt bụng có mặt lúc đó cũng khóc. Viết với ý định ban đầu là hai vợ chồng tôi sẽ có một khoản tiền để mà nuôi con. Nhưng lại bất ngờ là sau nửa tháng thì vợ chồng tôi nhận được sự đãi ngộ của nông trường là một bộ bàn ghế mộc, không sơn, không véc ni. Thực sự lúc ấy chúng tôi không nghĩ đến thù lao nữa, từ tình cảm, cảm xúc của người đọc mà cho chúng tôi chất men để vượt lên khó khăn, sống và viết (chứ nếu bây giờ mà viết với số lượng như thế, hay như thế, có thể thu lợi cả trăm triệu!).

Chính từ sự tận tâm, rồi cả khích lệ, động viên rất đặc biệt của những biên tập viên kỳ cựu như bác Vũ Sắc đã góp phần để tôi mải mê sáng tạo, cho ra đời liên tục những tiểu thuyết dày dặn như: “Ba lần và một lần”, “Cuộc đời dài lắm”, “Khúc bi tráng cuối cùng”, “Chỉ còn một lần”, … Mà hầu như cuốn nào cũng được giải thưởng cao của Hội Nhà văn, của Bộ Quốc phòng…

– Năm 2016 vừa qua ông đã rất thành công với “Mưa đỏ” giành Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, ông có thể chia sẻ đôi chút về điều này?

– Trước “Mưa đỏ” thì nhiều người cho rằng Chu Lai đã “cày xới” hết nguyên liệu ở vùng miền Đông Nam Bộ nơi trực tiếp chiến đấu nhiều năm, nếu chuyển sang vùng khác thì khó viết và cũng khó thành công. Bởi thực tế cho thấy, nhà văn viết về chiến tranh thường chỉ có thể viết hay được về vùng đất mà mình từng sống, chiến trường từng trải qua chiến đấu. Trước đây tôi cũng đã thử chứng minh rằng điều đó không hẳn thế, bằng việc viết “Khúc bi tráng cuối cùng” là viết về cuộc chiến đấu ở Buôn Ma Thuột cũng đem lại thành công nhất định.

Tôi đã đọc nhiều người viết về Quảng Trị năm 1972 đỏ lửa, nhưng cảm nhận họ vẫn chưa lột tả được hết cái sự bi tráng, khốc liệt của nó. Tôi hiểu rằng muốn viết về nó thì phải sống với nó, hai vợ chồng tôi đã vào nơi chiến trường xưa, gặp gỡ, chuyện trò với cựu chiến binh, cựu nữ du kích, hay người dân từng trực tiếp chứng kiến cuộc chiến đấu năm xưa. Rồi thức với Nghĩa trang Thành cổ một đêm thử lắng nghe những thanh âm linh thiêng rì rầm điều gì mách nước cho mình thì cũng chả nghe thấy gì. Nhưng từ đó mà nảy ý nảy tứ. Đó là dòng sông Thạch Hãn là một thủy mồ chôn cả hai bên đối phương, do vậy ngay trong đó đã chứa mầm mống của sự hòa hợp dân tộc. Cốt truyện được dần dần hé lộ ra. Điều tôi muốn thể hiện trong “Mưa đỏ” là tôn vinh lớp chiến sĩ là những sinh viên gác bút nghiên lên đường ra trận, và trong số đó có bao người đã nằm xuống nơi dòng sông này. Rồi pha trộn trong đó cả những nông dân, công nhân. Tạo nên một thế hệ người lính cách mạng đầy lãng mạn. Và tôi cũng chủ ý khắc họa đối phương với những con người không phải cứ nói đến là xấu xa, bỉ ổi, mà nó cũng có những sự hào hoa lãng mạn, thậm chí mặt nào đó có cả sự nhân văn, nhân ái. Như nhân vật Quang, một sĩ quan ngụy bên kia chiến tuyến, tôi khắc họa cả khía cạnh mặt tốt của nó. Sự trần trụi của cuộc chiến ở Thành cổ đã được tôi đẩy lên đến tận cùng.

Bản thảo “Mưa đỏ” có nhiều chi tiết gai góc, nên khi viết xong, có người khuyên tôi nên đem đến nhà xuất bản ngoài quân đội, dễ làm hơn, lại thu được lợi nhuận nhiều hơn. Nhưng tôi quyết: Cuốn này viết về chiến tranh cách mạng, và tôi cũng gắn bó với Nhà xuất bản QĐND bốn chục năm, trước tiên phải đem đến đây đã. Và thật vui là từ người biên tập đến Tổng biên tập đều rất ủng hộ và phối hợp với tôi và cả vợ tôi nữa xử lý tốt bản thảo, biên tập và xuất bản để rồi có được mùa quả ngọt sau đó…

– Được biết là ngay trong mùa hè này, ông sẽ dành ba tháng ở ba Nhà sáng tác để tiếp tục cho ra đời một tác phẩm mới, vậy ông có thể “bật mí” một chút về “đứa con tinh thần” sắp tới đây với bạn đọc được không ạ?

– Từ tháng tư này, được Nhà xuất bản QĐND và Trung tâm Hỗ trợ Sáng tác Văn học nghệ thuật của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đầu tư, tôi sẽ “nằm trại sáng tác” ba tháng để viết. Tiểu thuyết này tôi vẫn chung thủy với đề tài người lính và chiến tranh cách mạng, nhưng không tập trung miêu tả sự khốc liệt của chiến tranh nữa, lần này tôi sẽ đi sâu vào khắc họa tình yêu trong quá khứ, một thứ tình yêu quá đẹp trong chiến tranh, nhưng đến thời bình nó bị xé ra, xé ra nhưng mà cái hạt nhân, cái phẩm hạnh của người lính trong chiến tranh vẫn còn. Họ lại tìm được nhau, mặc dầu là có những tình huống éo le mới. Đây sẽ là tiểu thuyết trữ tình về chiến tranh và hậu chiến tranh với thông điệp: người lính đã trải qua chiến tranh, trong thời bình dù có bầm dập như thế nào đi chăng nữa thì trong ký ức của họ, những năm tháng ấy không suy suyển, và dù thế nào đi chăng nữa thì cuối cùng những khí lực của những tháng năm cao đẹp đó vẫn thổi trong họ một nhân cách sống, sống đúng mình và cái thổi đó trong một giai điệu trữ tình, một tình yêu tuyệt đẹp cả trong và sau chiến tranh…

Mỗi khi viết tiểu thuyết với tôi thường ấp ủ từ một cái gì đó ngắn ngắn mình đã viết. Lần này tôi được đầu tư chiều sâu để viết thì cũng từ đoạn văn ngắn mang tên “Ký ức lửa”, mở rộng đường biên, mở rộng tuyến nhân vật, nâng tầm nó lên một tiểu thuyết. Tôi hy vọng tiểu thuyết này sẽ hấp dẫn ở một cách nhìn khác, đậm đặc chất lãng mạn, của tình yêu… Và với Nhà xuất bản QĐND, sau bốn chục năm kể từ “Nắng đồng bằng” vừa kể trên, thì “đứa con tinh thần” này viết ở tuổi “thất thập”, cảm xúc của tôi vẫn tươi nguyên như thuở ban đầu ấy. Tôi sẽ lại dốc toàn tâm, toàn lực để viết. Viết như tác phẩm đầu tiên, cũng viết như cái cuối cùng. Nhưng chưa bao giờ là cuối cùng…

– Vâng, chúc ông dồi dào sức khỏe để hành trình sáng tạo trong mùa hè tới đây hy vọng sẽ là một “đỉnh” mới của ông trong sự nghiệp sáng tác!

Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *