TỪ NHỮNG VÁCH CHIẾN HÀO ĐIỆN BIÊN
(Đọc Điện Biên Phủ – Nhân chứng & Sự kiện,
Nxb Quân đội nhân dân và Nhà sách Thăng Long, 2014)
Xuân Hùng
Không phải ngẫu nhiên những người chiến sĩ Điện Biên năm xưa lại ghi lại những phút giây kỷ niệm và những hình ảnh đầy xúc động trước khi quân đội ta nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Có lẽ ít hình dung được, trong những ngày hy sinh gian khổ, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa lại có những phút giây lạc quan và tâm hồn lãng mạn yêu đời bên vách chiến hào đến thế. Họ đã sống với niềm tin, với những kỷ niệm, với những tâm sự. Và những phút giây ấy, những tâm sự ấy đã trở thành động lực, thành niềm tin và sức mạnh thôi thúc để làm nên một Điện Biên Phủ lịch sử…
Câu chuyện về sự ra đời của ca khúc “Hò kéo pháo” như một cổ tích mà có lẽ những ai không được chứng kiến sẽ không thể nào tin được “hai canh giờ làm nên lịch sử” của Nhạc sĩ Hoàng Vân. Bắt nguồn từ những giờ phút cam go khi bộ đội ta kéo pháo vào trận địa, rồi hình ảnh của người anh hùng, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn bánh pháo… Tất cả như thôi thúc tâm hồn, thổi bùng lên niềm tin chiến thắng, sức chiến đấu mãnh liệt trong tâm hồn chàng lính trẻ Hoàng Vân (lúc này Hoàng Vân chưa thành nhạc sĩ). Để rồi chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, dưới căn hăm nhỏ ở dốc Bẩy Tời, Hò kéo pháo đã ra đời như một sự tất yếu của lịch sử. Và chính nó, ca khúc Hò kéo pháo đã tạo được men nồng tăng lực cho những người chiến sĩ Điện Biên kéo pháo năm xưa…
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận – người đã có mặt hành quân cùng bộ đội ngay từ những ngày đầu tiến về Tây Bắc đã vẽ nên sức sống mãnh liệt từ những khúc quân hành bất tử. Với “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “Trận Him Lam”, hay ngay sau khi quân ta kéo cờ chiến thắng thì “Giải phóng Điện Biên” nhanh chóng trở thành khúc ca khải hoàn, bừng bừng khí thế chiến thắng bay đến khắp mọi nơi. “Giải phóng Điện Biên”, một ca khúc với những giai điệu đậm chất dân ca, lấp lánh hình ảnh những bản làng, quê hương và những con người, cảnh quan vùng Tây Bắc mừng vui… đã quện chặt vào nhau để tạo nên bản hùng ca bất tử của những người chiến thắng.
Song hành cùng những Nhạc sĩ với các ca khúc vang vọng bên vách chiến hào thì Họa sĩ Nguyễn Bích lại như một biểu tượng sống động với chiếc huy hiệu “chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Hình ảnh cánh đồng và màu vàng rực rỡ làm nền chung cùng với người chiến sĩ bộ binh có cờ “Quyết chiến quyết thắng”, cộng thêm những khẩu pháo trong công sự và xung quanh là đồi núi hiểm trở đã tạo nên nét điển hình cho lòng chảo Mường Thanh. Sự kết hợp hài hòa của nghệ thuật tạo hình sắc sảo cùng với bức lụa “Mở đường” ấy đã tạo nên một bố cục chặt chẽ, sống động và đầy đủ để huy Hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” – món quà mà Bác Hồ dành tặng cho những người tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trở nên lộng lẫy, mang ý nghĩa lịch sử to lớn.
“Điện Biên Phủ – Nhân chứng & Sự kiện” là tập hợp những câu chuyện được chính tay những người chiến sĩ Điện Biên năm xưa ghi chép lại. Từng mẩu chuyện, từng chi tiết, hình ảnh… với lối viết giản dị, thanh thoát và súc tích nhưng cũng rất cẩn trọng, các tác giả đã đem đến cho người đọc một bức tranh đa chiều, với nhiều bất ngờ từ những hy sinh cao cả nhưng cũng rất thầm lặng của người chiến sĩ Điện Biên. Hình ảnh những người chiến sĩ lái xe ở đèo Pha Đin là một điển hình cho lòng dũng cảm phi thường đó. Giữa lúc đoàn xe đang phải chống chọi với trận oanh tạc của máy bay địch. Dưới màn mưa bom, bão đạn ngợp trời, những người lính lái xe đã không quản ngại hiểm nguy, dũng cảm lao xe xuống vực để đánh lạc hướng quân thù: “Lệnh của đại đội trưởng vừa nhắc lại. Ba nghiến răng xoay mạnh tay lái về bên trái nửa vòng. Chiếc xe đang chạy thẳng bổng xoay ngang. Hai bánh trước vừa sát thành vực… Chiếc xe nhảy chồm như một con thú dữ nổi cơn điên. Dưới sức nặng của nó, cây cối đổ gãy thành vệt, gió xiết qua tai Ba ù ù. Chiếc xe mấy lần định quay ngang, lộn tung lật úp đi, Ba vẫn nghiến răng ghì cho tay lái giữ lại được…” (Hồi ký của Đình Báo).
Bên cạnh những người chiến sĩ lái xe ở đèo Pha Đin là sự thầm lặng chiến đấu với bom nổ chậm của các đơn vị công binh mà điển hình là Đại đội 130, thuộc Trung đoàn 151 ở đoạn đường đèo Sơn La – Cò Nòi với quyết tâm “Dù có bom nổ chậm vẫn kiên quyết bám đường. Đường chưa xong, chưa về nghỉ…”.
Song hành cùng lòng dũng cảm và những hy sinh gian khổ của người chiến sĩ Điện Biên là sự mưu trí, sáng tạo; những ý tưởng táo bạo, dám nghĩ, dám làm mà có lẽ chỉ có họ – những người chiến sĩ Điện Biên mới có được. Câu chuyện về “Mười tám anh thợ vườn” là một nét đặc sắc, tượng trưng cho những ý tưởng táo bạo đó: Để đưa được bốn mươi sáu chiếc xe GMC từ hậu phương lên Điện Biên Phủ, tập thể “thợ vườn” đã tháo rời ô tô, chuyển từng bộ phận xuống bè để đi đường sông Thao về nơi tập kết, trong khi các anh mới chỉ là những người thợ quen với công việc của một “công binh xưởng” làm lựu đạn cháy và sửa súng “tắc bọp”: “Tháo được bộ phận nào, các anh đánh dấu ngay bộ phận ấy như kiểu đánh dấu cột, kèo nhà kể từ chi tiết máy nhỏ đến lớn…” (Mười tám anh thợ vườn). Sức sáng tạo của những người chiến sĩ Điện Biên còn được thể hiện rất rõ ở những câu chuyện: “Người thêu cờ ở Điện Biên Phủ” hay “Chiếc nhíp ô tô ghép tre”, “Người dân công Điện Biên”…
Chiến dịch Điện Biên Phủ còn là một sự tổng hòa của bức tranh về sức mạnh chiến đấu của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh những người chiến sĩ trực tiếp cầm súng là hình ảnh của những người dân công, những người thợ, những người lính mở đường và cả những người lính cầm bút… Tất cả đã tạo nên một bức tranh đa sắc màu về ý nghĩa to lớn của Điện Biên Phủ năm xưa. Những câu chuyện đặc sắc được chính tay những người chiến sĩ gan góc, bền bỉ đó ghi chép lại thực sự là tập hợp của những tư liệu quý, những câu chuyện sống động, giúp những thế hệ trẻ hôm nay và sau này chiêm nghiệm, nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về tầm vóc, ý nghĩa của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.

